-
Bill Gates nổi tiếng nhất với tên tuổi đứng vào top những người giàu nhất hành tinh và nhà sáng lập của công ty công nghệ khổng lồ Microsoft. Thứ đã giúp ông và công ty của ông thiết lập được sự thống trị gần như hoàn toàn trên thị trường không phải là trình độ công nghệ thượng hạng, mà chính là đầu óc kinh doanh nhạy bén và khả năng cạnh tranh quyết liệt. Khi Microsoft đứng đầu cuộc chơi với MS-DOS, Excel, Word và sau đó là Windows, rất nhiều nhà đầu tư băn khoăn không hiểu tại sao lợi nhuận không được tính vào trong cổ tức. Sớm sau đó, mọi người nhận ra rằng Bill Gates đang tích trữ để xây dựng nên một quy mô khổng lồ.
Nhà đầu tư, những người đã cố gắng "dụ dỗ" hội đồng quản trị chia lợi nhuận, thường phải yên lặng khi Bill Gates phác thảo kế hoạch để Microsoft trở thành một trong những công ty lớn nhất thế giới. Hiện tại Microsoft có hàng tỷ đôla tiền dự trữ để có thể sử dụng làm vũ khí hoặc một tấm khiên chắn, tùy từng trường hợp. Kể cả khi Microsoft phải đối mặt với những vụ kiện độc quyền hay chiếm lĩnh thị phần mới, Bill Gates và đế chế Microsoft của Gates vẫn rất đáng sợ.
No. 4 - George Soros
George Soros thường được ví như một tên cướp biển và bị xem thường ở nhiều nơi như Thái Lan, Anh hay Malaysia. Nhà đầu tư tiền tệ nổi tiếng này đã tạo ra đống tài sản khổng lồ của mình sau những vụ đầu tư tiền. Sau vụ chiến thắng Ngân hàng trung ương Anh, Soros trở thành một nhân vật đáng sợ đối với những quốc gia đang cố gắng để bảo vệ đồng tiền dễ bị tổn thương của họ. Soros vượt xa so với những nhà đầu tư chỉ nhìn vào con số. Ông nghiên cứu kỹ tình hình của một quốc gia và cố gắng vạch ra những lỗi trong định giá; đặc biệt ông có sở thích đối với tình hình chính trị quốc gia. Rất năng động trong các hoạt động từ thiện nhằm kích thích những thay đổi chính trị, Soros thường sử dụng các position tiền tệ của mình để "trừng phạt" các quốc gia có tình hình chính trị bất ổn nhưng hầu hết các nhà đầu cơ khác lại bỏ qua do các số liệu kinh tế quá "đẹp". Bằng cách gây áp lực tài chính đối với chính phủ của các quốc gia này, Soros có thể gây ra những thay đổi chính trị mà có thể đã không bao giờ xảy ra nếu không làm như vậy. Các chính phủ có thể sợ ông, nhưng người dân của các quốc gia này có thể cảm ơn ông. (Mặc dù khiến phố Wall sợ hãi, nhưng các khoản từ thiện và cho vay không tính lời thường được tài trợ bởi Soros và Gates).
No. 3 - Carl Icahn
Carl Icahn có thể được coi là người ảnh hưởng đến nhiều quy định của Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch hơn bất cứ cá nhân nào.
Icahn là người tạo ra thủ thuật "greenmailing" và một trong những nguyên nhân chính khiến các quy tắc giao dịch rất nghiêm ngặt đối với những thương vụ mua cổ phiếu lên tới 5% tổng cổ phiếu đang lưu hành của công ty khác. Icahn làm mọi việc từ mua lại tài sản để bán lấy giá cao hơn (stripping asset) và buộc các công ty mua lại cổ phiếu, đến việc mắng mỏ CEO và các thành viên trong hội đồng quản trị.
Giờ đây do được bao bọc bởi SEC, Icahn mua quyền kiểm soát hoặc thậm chí lợi ích của cổ đông thiểu số trong những công ty mà ông coi là bị định giá thấp. Sau đó, Icahn lên các kế hoạch để gây dựng lại giá trị - từ việc tách thành công ty mới những đơn vị sản xuất hiệu quả, mua lại cổ phiếu, hoặc cắt giảm chi phí chung - và đe dọa những trận chiến "proxy" nếu lời khuyên của ông không được thực hiện. Với tên tuổi của mình, một công ty có thể thấy giá tăng vọt chỉ bằng cách khiến Icahn nổi giận do cổ phiếu của công ty đang bị tụt giá. Carl Icahn tạo ra giá trị cho các cổ đông, chứ không phải là cướp đi giá trị, nhưng một cuộc gặp với Icahn có thể là đủ để loại bỏ những CEO làm việc kém hiệu quả hoặc được trả lương quá cao.
No. 2 - John D. Rockefeller
John D. Rockefeller có thể là nhân vật đáng sợ nhất trong thế giới tài chính. Ông đã từng là người giàu nhất thế giới và vẫn đứng trong top giàu có nhất trong lịch sử hiện đại. Công ty của ông, Standard Oil, kiểm soát 90% sản lượng dầu công nghiệp và bị tai tiếng do đẩy đối thủ cạnh tranh vào thế phá sản và sau đó mua lại tài sản của họ. Nhưng thứ khiến Rockefeller thực sự đáng sợ đó là niềm tin tuyệt đối vào những gì ông đang làm. Rockefeller coi cạnh tranh khốc liệt là một biện pháp tạo ra lợi nhuận cho khách hàng thì ít mà gây hại cho kinh doanh thì nhiều. Rockefeller tin rằng lợi nhuận và lợi ích lớn hơn có thể đạt được bằng sự kết hợp, được gọi là tính kinh tế theo quy mô.
Rockefeller khiến người ta nhớ vụ sử dụng tài sản khổng lồ của Standard Oil để cản trở tàu vận chuyển khiến đối thủ và khiến đối thủ rơi vào bước đường cùng và đồng ý về phe mình, nhưng ông cũng đáng được ghi nhớ với việc nhấn mạnh vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, giảm thiểu rác thải và chuyển các khoản tiết kiệm vào cho khách hàng. Rõ ràng mục tiêu và biện pháp Rockefeller tiến hành nhằm đạt được mục tiêu không hoàn toàn tốt, nhưng Rockefeller vừa đáng ngưỡng mộ vừa đáng sợ.
No. 1 - J.P. Morgan
J.P. Morgan là một người rất giàu có. Nhưng điều mà J.P. Morgan có nhiều hơn bất kỳ tỷ phú nào khác đó là quyền lực. Trong suốt cuộc đời của Morgan, người ta nói rằng Chúa sở hữu tâm hồn của con người và J.P. Morgan sở hữu phần còn lại. Quyền lực mà Morgan nắm giữ có được vừa là do lựa chọn thời cơ đúng lúc vừa do các đặc điểm cá nhân. Morgan là thống đốc ngân hàng đầu tiên của phố Wall, những công ty bảo hiểm như General Electric và International Harvester khi nền kinh tế Mỹ bắt đầu bùng nổ. Vào thời gian đó, danh tiếng của một ngân hàng quyết định sự đắt hàng của một đợt phát hành chứ không phải là những chỉ số tài chính của công ty đó, và danh tiếng của Morgan là vàng.
Tuy nhiên, thời khắc Morgan đạt đỉnh cao quyền lực và sợ hãi là vào thời kỳ Hoảng loạn ngân hàng năm 1907. Morgan tự tay tập hợp những người chủ chốt trong tài chính và chính trị trong biệt thự của ông và tiến hành các cuộc họp kín nhằm giải quyết các cuộc khủng hoảng. Mối lo cả nền kinh tế Hoa Kỳ chỉ phụ thuộc vào một thống đốc ngân hàng đã có tuổi để tồn tại khiến chính phủ lo sợ và Cục dự trữ liên bang đã được tạo ra nhằm ngăn chặn những tình huống tương tự trong tương lai.
theo Investopedia
Thứ Năm, 27 tháng 11, 2008
5 nhân vật "đáng sợ" nhất thế giới tài chính
No.
5 - Bill Gates
Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2008
CFA Exam Admission Ticket
Before
accessing your exam admission ticket you must read and agree to the
following:
You are required, without exception, to adhere to all published testing policies and follow all instructions announced on exam day.
BEFORE EXAM DAYYou are strongly encouraged to visit your test center before exam day. Directions and special instructions are available for most test centers. It is your responsibility to read and understand all information about your test center.
Many local CFA Institute member societies host events at the test center or after the exam.
EXAM DAY
There are two sessions:
Morning session: 9:00 a.m.–12:00 p.m.
Afternoon session: 2:00 p.m.–5:00 p.m.
You must attend both sessions or your exam will not be graded and you will not receive results. You must report to the test center at least one hour before each session. The testing room doors will be closed prior to the start of each session for reading the instructions and late candidates will not be allowed to enter the testing room until after the exam begins. Instructions will not be repeated and no additional testing time will be granted for candidates who are admitted after the start of the exam.
The following items must remain on your desk at all times. No exceptions will be made to these rules:
1. Exam Admission Ticket: You will not be permitted to enter the testing room without a valid ticket. Print one copy of your admission ticket on clean, unused paper and bring it with you to the test center on exam day.
2. Identification: Your identification must meet all of the following criteria:
1) Be current and valid − it cannot be expired.
2) Contain your photo.
3) Be issued by a government agency.
4) Be a single document (not a combination of two or more pieces of identification, such as an expired photo driver's license with a separate renewal certificate).
5) Be an original document. Photocopies of identification documents will not be accepted. You will not be permitted to sit for the exam with an invalid identification. Use of invalid identification will result in CFA Institute voiding your exam results. The CFA Institute preferred form of identification is a valid passport. School and university identification will not be accepted for admittance to the CFA exam.
3. Calculator: You may use only the Texas Instruments BAII Plus (including the BAII Plus Professional) and/or the Hewlett Packard 12C or 12C Platinum during the exam. No other calculators are permitted. Use of an unauthorized calculator will result in CFA Institute voiding your exam results and may lead to suspension or termination of your candidacy in the CFA Program. Calculator covers are permitted in the testing room. The Texas Instruments BAII Plus cover contains a keystroke card; the Hewlett Packard 12C has keystrokes printed on the back of the calculator. You may refer to these keystroke instructions during the exam. Loose batteries (no packaging) are permitted in the testing room; however, CFA Institute advises you to place fresh batteries in your calculator on the day before the exam. You may keep a small screwdriver with you if necessary to replace batteries in the BAII Plus. Instruction manuals are not permitted in the testing room.
4. Writing Instruments: You must bring your own writing instruments on exam day; testing personnel will not provide these to candidates. You must dispose of any packaging before entering the testing room. All candidates must bring sharpened number two or HB pencils and Level III candidates (June exam only) must also bring pens (with blue or black ink) for the essay portion of the exam. Pencil sharpeners will not be provided at the test center.
The following items may be kept on your desk, if needed: calculator batteries (and screwdriver for battery replacement), earplugs, erasers, eyeglasses, pencil sharpeners (no knives), and wristwatches (analog and digital) are acceptable; however, audible alarms and/or audible timers must be turned off.
The following items are permitted in the testing room but must remain in your pockets or under your chair when not in use: wallet (money purse), medicine, tissues, and other necessary medical or personal items.
The following items are not permitted in the testing room: food and drinks; baggage of any kind, including transparent bags, backpacks, handbags, tote bags, briefcases, luggage, carrying cases, or pencil cases; study materials, including notes, papers, textbooks, or study guides; scratch paper, present/future value tables, or calculator manuals; highlighters, correction fluid, correction tape, or rulers; knives of any type, including box cutter and X-ACTO® knives for use as pencil sharpeners; BlackBerrys®, cell phones, MP3 players, cameras, pagers, headsets, computers, electronic organizers, personal data assistants, or any other remote communication or photographic devices; any type of desk clock or timer.
Proctors and security personnel may ask to inspect your belongings at check-in to ensure that prohibited items are not carried into the testing room. Please comply with these requests.
IMPORTANT EXAM RULES TO REMEMBERYou are bound by the CFA Institute Code of Ethics and Standards of Professional Conduct (Code and Standards). To comply with the Code and Standards during the exam administration process, you must conduct yourself in a respectful and dignified manner and adhere to published testing policies, proctors’ verbal instructions, and the candidate pledge printed on each morning session exam book or answer sheet. It is important that you remember to read and sign the pledge. Failure to sign will prevent release of your exam results. Rules have been disseminated in various formats, including registration information, the CFA Candidate Newsletter, and the website. Failure to follow any of the CFA Institute published rules will result in cancellation of your scores and may lead to disciplinary sanction:
• You must not: bring prohibited personal belongings into the testing room; speak to anyone other than a proctor during the exam; glance or look at another candidate’s exam or give the appearance of doing so; continue to write or erase after time is called; open the exam book until instructed to do so by the proctor; write on anything other than your exam book or answer sheet, including your exam admission ticket; remove exam materials from the testing room; leave the testing room during the final 30 minutes of the exams except for brief toilet breaks; exit and re-enter the building during the exams, except during the lunch break; create a disturbance; fail to follow the directions of testing personnel.• You must: bring only one copy of your admission ticket printed on clean, unused paper to the test center; give your exam materials and photo identification to the proctor before leaving the testing room for brief toilet breaks; remain seated at the conclusion of the exams until all materials have been collected and reconciled.
By clicking “I agree” below:I attest that I have read, understood, and agreed to follow the above conditions, requirements, policies, and procedures for the CFA Program. Further, I understand that a violation of any rules and regulations of the CFA Program will result in CFA Institute voiding my exam results and may lead to suspension or termination of my candidacy in the CFA Program.
You are required, without exception, to adhere to all published testing policies and follow all instructions announced on exam day.
BEFORE EXAM DAYYou are strongly encouraged to visit your test center before exam day. Directions and special instructions are available for most test centers. It is your responsibility to read and understand all information about your test center.
Many local CFA Institute member societies host events at the test center or after the exam.
EXAM DAY
There are two sessions:
Morning session: 9:00 a.m.–12:00 p.m.
Afternoon session: 2:00 p.m.–5:00 p.m.
You must attend both sessions or your exam will not be graded and you will not receive results. You must report to the test center at least one hour before each session. The testing room doors will be closed prior to the start of each session for reading the instructions and late candidates will not be allowed to enter the testing room until after the exam begins. Instructions will not be repeated and no additional testing time will be granted for candidates who are admitted after the start of the exam.
The following items must remain on your desk at all times. No exceptions will be made to these rules:
1. Exam Admission Ticket: You will not be permitted to enter the testing room without a valid ticket. Print one copy of your admission ticket on clean, unused paper and bring it with you to the test center on exam day.
2. Identification: Your identification must meet all of the following criteria:
1) Be current and valid − it cannot be expired.
2) Contain your photo.
3) Be issued by a government agency.
4) Be a single document (not a combination of two or more pieces of identification, such as an expired photo driver's license with a separate renewal certificate).
5) Be an original document. Photocopies of identification documents will not be accepted. You will not be permitted to sit for the exam with an invalid identification. Use of invalid identification will result in CFA Institute voiding your exam results. The CFA Institute preferred form of identification is a valid passport. School and university identification will not be accepted for admittance to the CFA exam.
3. Calculator: You may use only the Texas Instruments BAII Plus (including the BAII Plus Professional) and/or the Hewlett Packard 12C or 12C Platinum during the exam. No other calculators are permitted. Use of an unauthorized calculator will result in CFA Institute voiding your exam results and may lead to suspension or termination of your candidacy in the CFA Program. Calculator covers are permitted in the testing room. The Texas Instruments BAII Plus cover contains a keystroke card; the Hewlett Packard 12C has keystrokes printed on the back of the calculator. You may refer to these keystroke instructions during the exam. Loose batteries (no packaging) are permitted in the testing room; however, CFA Institute advises you to place fresh batteries in your calculator on the day before the exam. You may keep a small screwdriver with you if necessary to replace batteries in the BAII Plus. Instruction manuals are not permitted in the testing room.
4. Writing Instruments: You must bring your own writing instruments on exam day; testing personnel will not provide these to candidates. You must dispose of any packaging before entering the testing room. All candidates must bring sharpened number two or HB pencils and Level III candidates (June exam only) must also bring pens (with blue or black ink) for the essay portion of the exam. Pencil sharpeners will not be provided at the test center.
The following items may be kept on your desk, if needed: calculator batteries (and screwdriver for battery replacement), earplugs, erasers, eyeglasses, pencil sharpeners (no knives), and wristwatches (analog and digital) are acceptable; however, audible alarms and/or audible timers must be turned off.
The following items are permitted in the testing room but must remain in your pockets or under your chair when not in use: wallet (money purse), medicine, tissues, and other necessary medical or personal items.
The following items are not permitted in the testing room: food and drinks; baggage of any kind, including transparent bags, backpacks, handbags, tote bags, briefcases, luggage, carrying cases, or pencil cases; study materials, including notes, papers, textbooks, or study guides; scratch paper, present/future value tables, or calculator manuals; highlighters, correction fluid, correction tape, or rulers; knives of any type, including box cutter and X-ACTO® knives for use as pencil sharpeners; BlackBerrys®, cell phones, MP3 players, cameras, pagers, headsets, computers, electronic organizers, personal data assistants, or any other remote communication or photographic devices; any type of desk clock or timer.
Proctors and security personnel may ask to inspect your belongings at check-in to ensure that prohibited items are not carried into the testing room. Please comply with these requests.
IMPORTANT EXAM RULES TO REMEMBERYou are bound by the CFA Institute Code of Ethics and Standards of Professional Conduct (Code and Standards). To comply with the Code and Standards during the exam administration process, you must conduct yourself in a respectful and dignified manner and adhere to published testing policies, proctors’ verbal instructions, and the candidate pledge printed on each morning session exam book or answer sheet. It is important that you remember to read and sign the pledge. Failure to sign will prevent release of your exam results. Rules have been disseminated in various formats, including registration information, the CFA Candidate Newsletter, and the website. Failure to follow any of the CFA Institute published rules will result in cancellation of your scores and may lead to disciplinary sanction:
• You must not: bring prohibited personal belongings into the testing room; speak to anyone other than a proctor during the exam; glance or look at another candidate’s exam or give the appearance of doing so; continue to write or erase after time is called; open the exam book until instructed to do so by the proctor; write on anything other than your exam book or answer sheet, including your exam admission ticket; remove exam materials from the testing room; leave the testing room during the final 30 minutes of the exams except for brief toilet breaks; exit and re-enter the building during the exams, except during the lunch break; create a disturbance; fail to follow the directions of testing personnel.• You must: bring only one copy of your admission ticket printed on clean, unused paper to the test center; give your exam materials and photo identification to the proctor before leaving the testing room for brief toilet breaks; remain seated at the conclusion of the exams until all materials have been collected and reconciled.
By clicking “I agree” below:I attest that I have read, understood, and agreed to follow the above conditions, requirements, policies, and procedures for the CFA Program. Further, I understand that a violation of any rules and regulations of the CFA Program will result in CFA Institute voiding my exam results and may lead to suspension or termination of my candidacy in the CFA Program.
Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2008
Rafael Nadal attained Championship's Wimbledon 2008
Rafael
Nadal held off an incredible fightback from Roger Federer to win his first
Wimbledon title and end the Swiss star's reign at the All England Club.The Spaniard missed two championship points in the fourth set but recovered to win a dramatic rain-interrupted match 6-4 6-4 6-7 (5-7) 6-7 (8-10) 9-7.
Finally, Rafael Nadal is Champion of Wimbledon Open 2008
Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2008
Nadal outwits Djokovic at Queen's

Rafael Nadal beat Novak Djokovic 7-6 (8-6) 7-5 in a
thrilling Artois final at Queen's, just seven days after winning his fourth
French Open title.
Nadal, 22, will now be confident of becoming the first man to win at Roland Garros and Wimbledon in the same year since Sweden's Bjorn Borg in 1980.
Nadal trailed 0-3 in the first set before storming back and pipping his Serb opponent in the tie-break.
Djokovic served for the second set but Nadal made him pay for his profligacy.
The French Open and Australian Open champions thrilled the crowd with some magnificent tennis, and Nadal must be confident of denying world number one Roger Federer a sixth-straight Wimbledon crown.
Nadal became the first Spaniard since Andres Gimeno in 1972 to win a grass court title and the first player to win at Roland Garros and Queen's in the same year since the tournament began in its current format in 1979.
"This week has been amazing for me," said Nadal, who was a point away from being 4-0 down in the first set before fighting back to win it on a tie-break.
Djokovic held one set point at 6-5 in the tie-break but Nadal took the next three points to win it 8-6 in 74 minutes.
Nadal seemed on course to race through the second set when he broke for a 2-0 lead, but Djokovic refused to concede and broke straight back.
The next six games went with serve but only after Djokovic saved two more break points to make it 4-4.
Djokovic looked to have made the most of his reprieve, breaking to love in the next game only to lose his serve straight back while serving for the set.
And Nadal made the world number three pay for his wastefulness, holding serve to lead 6-5 and then breaking Djokovic again to secure victory.
Djokovic said: "It's been a terrific week. I've only been playing on grass for three years so it's quite an improvement for me to get to the final."
Nadal, 22, will now be confident of becoming the first man to win at Roland Garros and Wimbledon in the same year since Sweden's Bjorn Borg in 1980.
Nadal trailed 0-3 in the first set before storming back and pipping his Serb opponent in the tie-break.
Djokovic served for the second set but Nadal made him pay for his profligacy.
The French Open and Australian Open champions thrilled the crowd with some magnificent tennis, and Nadal must be confident of denying world number one Roger Federer a sixth-straight Wimbledon crown.
Nadal became the first Spaniard since Andres Gimeno in 1972 to win a grass court title and the first player to win at Roland Garros and Queen's in the same year since the tournament began in its current format in 1979.
"This week has been amazing for me," said Nadal, who was a point away from being 4-0 down in the first set before fighting back to win it on a tie-break.
Djokovic held one set point at 6-5 in the tie-break but Nadal took the next three points to win it 8-6 in 74 minutes.
Nadal seemed on course to race through the second set when he broke for a 2-0 lead, but Djokovic refused to concede and broke straight back.
The next six games went with serve but only after Djokovic saved two more break points to make it 4-4.
Djokovic looked to have made the most of his reprieve, breaking to love in the next game only to lose his serve straight back while serving for the set.
And Nadal made the world number three pay for his wastefulness, holding serve to lead 6-5 and then breaking Djokovic again to secure victory.
Djokovic said: "It's been a terrific week. I've only been playing on grass for three years so it's quite an improvement for me to get to the final."
Thứ Tư, 4 tháng 6, 2008
Xin lỗi! Cây guitar thân yêu

Một hôm nọ, chỉ vì ham cây đàn mới, tôi đã lỡ bán bạn đi. Sau khi, có cây đàn mới trong tay, kể từ đó tôi không có cảm hứng đàn nữa, dù cho mình đã cố gắng bỏ nhiều thời gian để bắt nhịp với cây đàn mới.
Trong thâm tâm tôi lúc đó buồn và cô đơn lắm, vì tôi biết rằng lúc tôi buồn, lúc tôi khóc, cô đơn và căng thẳng với việc học, tôi đã có bạn kế bên cùng chia sẻ và khai thông trí tuệ. Vậy mà nỡ lòng nào chỉ vì một phút tham lam "cái mới" mà tôi đã bỏ rơi bạn và bán bạn đi. Bây giờ, tôi mới biết thế nào là sự đồng cảm giữa người và vật. Tôi sẽ không bao giờ để bạn xa rời tôi một lần nữa đâu.
Xin lỗi! Thi biết lỗi của mình rồi. Bạn đừng giận Thi nhé. Hỡi cây guitar thân yêu.
Thứ Ba, 3 tháng 6, 2008
Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2008
Nguyên lý của M&A (Sáp nhập và mua lại)
Một cộng
một bằng ba: phương trình này là động lực đặc biệt cho một thương vụ mua bán và
sáp nhập. Nguyên tắc then chốt đằng sau việc mua một công ty là nhằm tăng giá
trị lớn hơn nhiều lần cho cổ đông chứ không chỉ là tổng của hai công
ty.
Nói cách khác, hai công ty Sáp nhập cùng nhau sẽ có giá trị lớn hơn hai công ty riêng lẻ - và ít nhất nó cũng là lý do đằng sau mua bán và sáp nhập. Nguyên lý này đặc biệt hữu ích khi các công ty rơi vào những thời kỳ khó khăn do cạnh tranh, thị trường hay bất kỳ yếu tố nào. Những công ty lớn sẽ mua lại các công ty khác nhằm tạo nên một công ty mới có sức cạnh tranh hơn và giảm thiểu chi phí. Các công ty sau khi M&A sẽ có cơ hội mở rộng thị phần lớn hơn và đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Những công ty nhỏ là đối tượng bị mua cũng sẵn sàng để công ty khác mua vì như vậy sẽ tốt hơn nhiều là bị phá sản hoặc rất khó khăn tồn tại trên thị trường.
1. Sự khác nhau giữa Mua bán và Sáp nhập
Mặc dù mua bán và sáp nhập thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữ quốc tế phổ biến là “M&A” nhưng hai thuật ngữ mua bán và Sáp nhập vẫn có sự khác biệt về bản chất.
Khi một công ty mua lại (tiếp quản) một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua bán. Dưới khía cạnh pháp lý, công ty bị mua lại không còn tồn tại, bên mua đã “nuốt chửng” bên bán và cổ phiếu của bên mua không bị ảnh hưởng.
Theo nghĩa đen thì sáp nhập diễn ra khi hai doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, đồng thuận gộp lại thành một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ. Loại hình này thường được gọi là “Sáp nhập ngang bằng”. Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của công ty mới sẽ được phát hành. Trường hợp Daimler-Benz và Chrysler là một ví dụ về sáp nhập: hai hãng Sáp nhập và một công ty mới (pháp nhân mới) ra đời mang tên DaimlerChrysler.
Tuy nhiên trên thực tế hình thức sáp nhập ngang bằng không diễn ra thường xuyên do nhiều lý do. Một trong những lý do chính là việc truyền tải thông tin ra công chúng cần có lợi cho cả công ty bị mua và công ty mới sau khi sáp nhập. Thông thường, một công ty mua một công ty khác và trong thỏa thuận đàm phán sẽ cho phép công ty bị mua tuyên bố với bên ngoài rằng hoạt động này là sáp nhập ngang bằng cho dù về bản chất là hoạt động mua bán.Một thương vụ mua bán cũng có thể được gọi là sáp nhập khi cả hai bên đồng thuận liên kết cùng nhau vì lợi ích cho cả hai công ty. Nhưng khi bên bị mua không không muốn bị thâu tóm thì sẽ được coi là một thương vụ mua bán. Một thương vụ được coi là mua bán hay sáp nhập hoàn toàn phụ thuộc vào việc nó được diễn ra một cách thân thiện giữa hai bên hay hay bị ép buộc thâu tóm nhau. Mặt khác, no còn là cách truyền tải thông tin ra bên ngoài cũng như sự nhìn nhận của ban giám đốc, nhân viên và cổ đông của công ty.
2. Cộng hưởng trong M&A
Cộng hưởng là động cơ quan trọng và kì diệu nhất giải thích cho mọi thương vụ mua bán sáp nhập. Cộng hưởng sẽ cho phép hiệu quả và giá trị của doanh nghiệp mới (sau khi sáp nhập) được nâng cao. Lợi ích mà các doanh nghiệp kỳ vọng sau mỗi thương vụ M&A bao gồm:
- Giảm nhân viên: nói chung sáp nhập doanh nghiệp thường có khuynh hướng giảm việc làm. Hai hệ thống sáp nhập lại sẽ làm giảm nhiều công việc gián tiếp, ví dụ các công việc văn phòng, tài chính kế toán hay marketing… Việc giảm thiểu vị trí công việc cũng đồng thời với đòi hỏi tăng năng suất lao động. Đây cũng là dịp tốt để các doanh nghiệp sa thải những vị trí làm việc kém hiệu quả.
- Đạt được hiệu quả dựa vào quy mô: Một doanh nghiệp lớn lúc nào cũng có thế hơn khi giao dịch với các đối tác, kể cả mua văn phòng phẩm hay một hệ thống IT phức tạp thì công ty lớn vẫn có ưu thế khi đàm phán hơn là so với công ty nhỏ. Mặt khác, quy mô lớn cũng giúp giảm thiểu chi phí
- Trang bị công nghệ mới: Để duy trì cạnh tranh, các công ty luôn cần vị trí đỉnh cao của phát triển kỹ thuật và công nghệ. Thông qua việc mua bán hoặc sáp nhập, công ty mới có thể tận dụng công nghệ của nhau để tạo lợi thế cạnh tranh.
- Tăng cường thị phần và danh tiếng trong ngành: Một trong những mục tiêu của mua bán & sáp nhập là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu và thu nhập. Sáp nhập cho phép mở rộng các kênh marketing và hệ thống phân phối. Bên cạnh đó, vị thế của công ty mới sau khi sáp nhập sẽ tăng lên trong mắt cộng đồng đầu tư: công ty lớn hơn có lợi thế hơn và có khả năng tăng vốn dễ dàng hơn một công ty nhỏ.Trên thực tế, đạt được sự cộng hưởng thường khó hơn người ta tưởng
- Nó không tự đến khi hai công ty sáp nhập. Đương nhiên khi hai công ty sáp nhập dễ nhìn thấy khả năng đạt được lợi thế quy mô nhưng đôi khi nó lại có hiệu ứng ngược lại. Trong nhiều trường hợp, một cộng một lại nhỏ hơn hai. Do đó, việc phân tích chính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành những thương vụ M&A rất quan trọng. Khá nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã cố tình vẽ ra bức tranh cộng hưởng để tiến hành các vụ M&A nhằm trục lợi từ việc định giá doanh nghiệp.
3. Một số hình thức Sáp nhập
Dựa vào cấu trúc của từng doanh nghiệp, có khá nhiều hình thức sáp nhập khác nhau. Dưới đây là một số loại hình được phân biệt dựa vào mối quan hệ giữa hai công ty tiến hành sáp nhập:
- Sáp nhập cùng ngành (hay còn gọi là sáp nhập chiều ngang): Diễn ra đối với hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường.
- Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, ví dụ giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó. Chẳng hạn như nhà cung cấp ốc quế sáp nhập với một đơn vị sản xuất kem.- Sáp nhập mở rộng thị trường: Diễn ra đối với hai công ty bán cùng loại sản phẩm nhưng ở những thị trường khác nhau.
- Sáp nhập mở rộng sản phẩm: Diễn ra đối với hai công ty bán những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trường.
- Sáp nhập kiểu tập đoàn: Trong trường hợp này, hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề.Có hai hình thức sáp nhập được phân biệt dựa trên cách thức cơ cấu tài chính. Mỗi hình thức có những tác động nhất định tới công ty và nhà đầu tư:
- Sáp nhập mua: Như chính cái tên này thể hiện, loại hình sáp nhập này xảy ra khi một công ty mua lại một công ty khác. Việc mua công ty được tiến hành bằng tiền mặt hoặc thông qua một số công cụ tài chính.
- Sáp nhập hợp nhất: với hình thức sáp nhập này, một thương hiệu công ty mới được hình thành và cả hai công ty được hợp nhất dưới một pháp nhân mới. Tài chính của hai công ty sẽ được hợp nhất trong công ty mới.
4. Mua bán
Chúng ta có thể thấy hoạt động mua bán chỉ khác đôi chút so với hình thức sáp nhập. Trên thực tế, nó có thể chỉ khác về mặt thuật ngữ. Giống như sáp nhập, mua bán cũng nhằm mục đích đạt được lợi thế quy mô, tăng hiệu quả và thị phần. Không giống như tất cả các loại hình sáp nhập, mua bán liên quan đến một công ty mua lại một công ty khác chứ không phải hợp nhất để tạo thành công ty mới. Mua bán luôn diễn ra tốt đẹp nếu quan hệ hai bên là ăn ý nhau và cảm thây thỏa mãn với thương vụ đó. Tuy nhiên, cũng có thể mua bán được diễn ra một cách hằn học - khi mà hai đối thủ dùng tiềm lực tài chính để thâu tóm nhau nhằm triệt tiêu sự cạnh tranh.
Trong mua bán, giống như đối với một số giao dịch sáp nhập đã đề cập ở trên, một công ty có thể mua lại một công ty khác bằng tiền mặt, cổ phiếu hay kết hợp cả hai loại trên. Một hình thức khác phổ biến trong những thương vụ mua bán nhỏ hơn là mua tất cả tài sản của công ty bị mua. Công ty X mua tất cả tài sản của công ty Y bằng tiền mặt đồng nghĩa với việc công ty Y chỉ còn lại tiền mặt (và nợ, nếu như có nợ trước đó). Đương nhiên, công ty Y chỉ là vỏ bên ngoài và cuối cùng sẽ thanh lý hoặc phải nhảy vào một lĩnh vực kinh doanh khác.
Một loại hình mua bán khác là sáp nhập ngược, diễn ra khi một một công ty tư nhân mua lại một doanh nghiệp đã niêm yết trên sàn trong một thời gian tương đối ngắn. Thông thường khi khi một công ty tư nhân có triển vọng lớn và muốn tăng vốn sẽ mua một công ty đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và biến mình thành một công ty đại chúng và được phát hành cổ phiếu.Nói chung, mục tiêu cuối cùng của tất cả các thương vụ mua bán sáp nhập là tạo ra sự cộng hưởng và nâng cao giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị của từng bên riêng lẻ. Thành công của mua bán hay sáp nhập phụ thuộc vào việc có đạt được sự cộng hưởng hay không.
5. Vấn đề định giá trong M&A
Các nhà đầu tư của một công ty khi muốn một công ty khác luôn đặt câu hỏi mua với mức giá bao nhiêu thì có lợi nhất? Do vậy việc định giá một công ty để quyết định mua là một khâu quan trọng trong quá trình mua bán sáp nhập doanh nghiệp. Thông thường, cả hai bên trong thương vụ mua bán hay sáp nhập đều có cách đánh giá khác nhau về giá trị công ty bị mua: bên bán có khuynh hướng định giá công ty của mình ở mức cao nhất có thể trong khi bên mua sẽ cố gắng trả giá thấp nhất trong khả năng. Để đưa ra một mức giá công bằng và được chấp nhận bởi cả hai bên, người ta đã đưa ra nhiều phương pháp phù hợp để định giá các công ty. Phương thức phổ biến nhất là nhìn vào các công ty có thể so sánh được trong cùng một ngành, tuy nhiên các nhà môi giới thường sử dụng nhiều công cụ khác nhau khi định giá công ty.
Dưới đây giới thiệu một số phương pháp định giá:
- Tỷ suất P/E: Bên mua có thể so sánh mức P/E trung bình của cổ phiếu trong ngành để xác định mức chào mua một cách hợp lý;
- Tỷ suất Giá trị doanh nghiệp trên Doanh thu (EV/Sales): Với chỉ số này, bên mua so sánh chỉ số này với các doanh nghiệp khác trong ngành và sẽ chào giá ở một mức gấp một cơ số lần doanh thu;
- Chi phí thay thế: Trong một số trường hợp, mua bán được dựa trên việc cân nhắc yếu tố chi phí để thiết lập một công ty từ đầu so với mua một công ty đang có sẵn. Chẳng hạn, nếu tính một cách đơn giản giá trị công ty bao gồm toàn bộ tài sản cố định, trang thiết bị và đội ngũ nhân viên. Về lý thuyết, công ty đi mua có thể đàm phán mua lại công ty đang tồn tại với giá trị kể trên hoặc là thiết lập một công ty mới tương tự để cạnh tranh. Rõ ràng, để xây dựng một công ty mới sẽ mất một khoảng thời gian dài để tập hợp đội ngũ quản lý & nhân sự tốt, mua sắm tài sản và tìm kiếm khách hàng chưa kể việc ra đời phải cạnh tranh với công ty đang tồn tại trên thị trường.
Tuy nhiên phương pháp này cũng khó đối với các ngành dịch vụ, nơi mà tài sản quan trọng nhất là con người và phương thức dựa trên ý tưởng là chính.
- Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF): Đây là một công cụ định giá quan trong trong mua bán và sáp nhập. Mục đích của DCF là xác định giá trị hiện tại của công ty dựa trên ước tính dòng tiền mặt trong tương lai. Dòng tiền mặt ước tính (được tính bằng công thức “Lợi nhuận + khấu hao - chi phí vốn - thay đổi vốn lưu thông”) được chiết khấu đến giá trị hiên tại có tính đến trọng số trung bình vốn của công ty (WACC).
Tất nhiên DCF cũng có những hạn chế nhất định nhưng rất ít có công cụ nào có thể cạnh tranh được với phương thức định giá này về mặt phương pháp luận.
Nói cách khác, hai công ty Sáp nhập cùng nhau sẽ có giá trị lớn hơn hai công ty riêng lẻ - và ít nhất nó cũng là lý do đằng sau mua bán và sáp nhập. Nguyên lý này đặc biệt hữu ích khi các công ty rơi vào những thời kỳ khó khăn do cạnh tranh, thị trường hay bất kỳ yếu tố nào. Những công ty lớn sẽ mua lại các công ty khác nhằm tạo nên một công ty mới có sức cạnh tranh hơn và giảm thiểu chi phí. Các công ty sau khi M&A sẽ có cơ hội mở rộng thị phần lớn hơn và đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Những công ty nhỏ là đối tượng bị mua cũng sẵn sàng để công ty khác mua vì như vậy sẽ tốt hơn nhiều là bị phá sản hoặc rất khó khăn tồn tại trên thị trường.
1. Sự khác nhau giữa Mua bán và Sáp nhập
Mặc dù mua bán và sáp nhập thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữ quốc tế phổ biến là “M&A” nhưng hai thuật ngữ mua bán và Sáp nhập vẫn có sự khác biệt về bản chất.
Khi một công ty mua lại (tiếp quản) một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua bán. Dưới khía cạnh pháp lý, công ty bị mua lại không còn tồn tại, bên mua đã “nuốt chửng” bên bán và cổ phiếu của bên mua không bị ảnh hưởng.
Theo nghĩa đen thì sáp nhập diễn ra khi hai doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, đồng thuận gộp lại thành một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ. Loại hình này thường được gọi là “Sáp nhập ngang bằng”. Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của công ty mới sẽ được phát hành. Trường hợp Daimler-Benz và Chrysler là một ví dụ về sáp nhập: hai hãng Sáp nhập và một công ty mới (pháp nhân mới) ra đời mang tên DaimlerChrysler.
Tuy nhiên trên thực tế hình thức sáp nhập ngang bằng không diễn ra thường xuyên do nhiều lý do. Một trong những lý do chính là việc truyền tải thông tin ra công chúng cần có lợi cho cả công ty bị mua và công ty mới sau khi sáp nhập. Thông thường, một công ty mua một công ty khác và trong thỏa thuận đàm phán sẽ cho phép công ty bị mua tuyên bố với bên ngoài rằng hoạt động này là sáp nhập ngang bằng cho dù về bản chất là hoạt động mua bán.Một thương vụ mua bán cũng có thể được gọi là sáp nhập khi cả hai bên đồng thuận liên kết cùng nhau vì lợi ích cho cả hai công ty. Nhưng khi bên bị mua không không muốn bị thâu tóm thì sẽ được coi là một thương vụ mua bán. Một thương vụ được coi là mua bán hay sáp nhập hoàn toàn phụ thuộc vào việc nó được diễn ra một cách thân thiện giữa hai bên hay hay bị ép buộc thâu tóm nhau. Mặt khác, no còn là cách truyền tải thông tin ra bên ngoài cũng như sự nhìn nhận của ban giám đốc, nhân viên và cổ đông của công ty.
2. Cộng hưởng trong M&A
Cộng hưởng là động cơ quan trọng và kì diệu nhất giải thích cho mọi thương vụ mua bán sáp nhập. Cộng hưởng sẽ cho phép hiệu quả và giá trị của doanh nghiệp mới (sau khi sáp nhập) được nâng cao. Lợi ích mà các doanh nghiệp kỳ vọng sau mỗi thương vụ M&A bao gồm:
- Giảm nhân viên: nói chung sáp nhập doanh nghiệp thường có khuynh hướng giảm việc làm. Hai hệ thống sáp nhập lại sẽ làm giảm nhiều công việc gián tiếp, ví dụ các công việc văn phòng, tài chính kế toán hay marketing… Việc giảm thiểu vị trí công việc cũng đồng thời với đòi hỏi tăng năng suất lao động. Đây cũng là dịp tốt để các doanh nghiệp sa thải những vị trí làm việc kém hiệu quả.
- Đạt được hiệu quả dựa vào quy mô: Một doanh nghiệp lớn lúc nào cũng có thế hơn khi giao dịch với các đối tác, kể cả mua văn phòng phẩm hay một hệ thống IT phức tạp thì công ty lớn vẫn có ưu thế khi đàm phán hơn là so với công ty nhỏ. Mặt khác, quy mô lớn cũng giúp giảm thiểu chi phí
- Trang bị công nghệ mới: Để duy trì cạnh tranh, các công ty luôn cần vị trí đỉnh cao của phát triển kỹ thuật và công nghệ. Thông qua việc mua bán hoặc sáp nhập, công ty mới có thể tận dụng công nghệ của nhau để tạo lợi thế cạnh tranh.
- Tăng cường thị phần và danh tiếng trong ngành: Một trong những mục tiêu của mua bán & sáp nhập là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu và thu nhập. Sáp nhập cho phép mở rộng các kênh marketing và hệ thống phân phối. Bên cạnh đó, vị thế của công ty mới sau khi sáp nhập sẽ tăng lên trong mắt cộng đồng đầu tư: công ty lớn hơn có lợi thế hơn và có khả năng tăng vốn dễ dàng hơn một công ty nhỏ.Trên thực tế, đạt được sự cộng hưởng thường khó hơn người ta tưởng
- Nó không tự đến khi hai công ty sáp nhập. Đương nhiên khi hai công ty sáp nhập dễ nhìn thấy khả năng đạt được lợi thế quy mô nhưng đôi khi nó lại có hiệu ứng ngược lại. Trong nhiều trường hợp, một cộng một lại nhỏ hơn hai. Do đó, việc phân tích chính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành những thương vụ M&A rất quan trọng. Khá nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã cố tình vẽ ra bức tranh cộng hưởng để tiến hành các vụ M&A nhằm trục lợi từ việc định giá doanh nghiệp.
3. Một số hình thức Sáp nhập
Dựa vào cấu trúc của từng doanh nghiệp, có khá nhiều hình thức sáp nhập khác nhau. Dưới đây là một số loại hình được phân biệt dựa vào mối quan hệ giữa hai công ty tiến hành sáp nhập:
- Sáp nhập cùng ngành (hay còn gọi là sáp nhập chiều ngang): Diễn ra đối với hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường.
- Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, ví dụ giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó. Chẳng hạn như nhà cung cấp ốc quế sáp nhập với một đơn vị sản xuất kem.- Sáp nhập mở rộng thị trường: Diễn ra đối với hai công ty bán cùng loại sản phẩm nhưng ở những thị trường khác nhau.
- Sáp nhập mở rộng sản phẩm: Diễn ra đối với hai công ty bán những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trường.
- Sáp nhập kiểu tập đoàn: Trong trường hợp này, hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề.Có hai hình thức sáp nhập được phân biệt dựa trên cách thức cơ cấu tài chính. Mỗi hình thức có những tác động nhất định tới công ty và nhà đầu tư:
- Sáp nhập mua: Như chính cái tên này thể hiện, loại hình sáp nhập này xảy ra khi một công ty mua lại một công ty khác. Việc mua công ty được tiến hành bằng tiền mặt hoặc thông qua một số công cụ tài chính.
- Sáp nhập hợp nhất: với hình thức sáp nhập này, một thương hiệu công ty mới được hình thành và cả hai công ty được hợp nhất dưới một pháp nhân mới. Tài chính của hai công ty sẽ được hợp nhất trong công ty mới.
4. Mua bán
Chúng ta có thể thấy hoạt động mua bán chỉ khác đôi chút so với hình thức sáp nhập. Trên thực tế, nó có thể chỉ khác về mặt thuật ngữ. Giống như sáp nhập, mua bán cũng nhằm mục đích đạt được lợi thế quy mô, tăng hiệu quả và thị phần. Không giống như tất cả các loại hình sáp nhập, mua bán liên quan đến một công ty mua lại một công ty khác chứ không phải hợp nhất để tạo thành công ty mới. Mua bán luôn diễn ra tốt đẹp nếu quan hệ hai bên là ăn ý nhau và cảm thây thỏa mãn với thương vụ đó. Tuy nhiên, cũng có thể mua bán được diễn ra một cách hằn học - khi mà hai đối thủ dùng tiềm lực tài chính để thâu tóm nhau nhằm triệt tiêu sự cạnh tranh.
Trong mua bán, giống như đối với một số giao dịch sáp nhập đã đề cập ở trên, một công ty có thể mua lại một công ty khác bằng tiền mặt, cổ phiếu hay kết hợp cả hai loại trên. Một hình thức khác phổ biến trong những thương vụ mua bán nhỏ hơn là mua tất cả tài sản của công ty bị mua. Công ty X mua tất cả tài sản của công ty Y bằng tiền mặt đồng nghĩa với việc công ty Y chỉ còn lại tiền mặt (và nợ, nếu như có nợ trước đó). Đương nhiên, công ty Y chỉ là vỏ bên ngoài và cuối cùng sẽ thanh lý hoặc phải nhảy vào một lĩnh vực kinh doanh khác.
Một loại hình mua bán khác là sáp nhập ngược, diễn ra khi một một công ty tư nhân mua lại một doanh nghiệp đã niêm yết trên sàn trong một thời gian tương đối ngắn. Thông thường khi khi một công ty tư nhân có triển vọng lớn và muốn tăng vốn sẽ mua một công ty đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và biến mình thành một công ty đại chúng và được phát hành cổ phiếu.Nói chung, mục tiêu cuối cùng của tất cả các thương vụ mua bán sáp nhập là tạo ra sự cộng hưởng và nâng cao giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị của từng bên riêng lẻ. Thành công của mua bán hay sáp nhập phụ thuộc vào việc có đạt được sự cộng hưởng hay không.
5. Vấn đề định giá trong M&A
Các nhà đầu tư của một công ty khi muốn một công ty khác luôn đặt câu hỏi mua với mức giá bao nhiêu thì có lợi nhất? Do vậy việc định giá một công ty để quyết định mua là một khâu quan trọng trong quá trình mua bán sáp nhập doanh nghiệp. Thông thường, cả hai bên trong thương vụ mua bán hay sáp nhập đều có cách đánh giá khác nhau về giá trị công ty bị mua: bên bán có khuynh hướng định giá công ty của mình ở mức cao nhất có thể trong khi bên mua sẽ cố gắng trả giá thấp nhất trong khả năng. Để đưa ra một mức giá công bằng và được chấp nhận bởi cả hai bên, người ta đã đưa ra nhiều phương pháp phù hợp để định giá các công ty. Phương thức phổ biến nhất là nhìn vào các công ty có thể so sánh được trong cùng một ngành, tuy nhiên các nhà môi giới thường sử dụng nhiều công cụ khác nhau khi định giá công ty.
Dưới đây giới thiệu một số phương pháp định giá:
- Tỷ suất P/E: Bên mua có thể so sánh mức P/E trung bình của cổ phiếu trong ngành để xác định mức chào mua một cách hợp lý;
- Tỷ suất Giá trị doanh nghiệp trên Doanh thu (EV/Sales): Với chỉ số này, bên mua so sánh chỉ số này với các doanh nghiệp khác trong ngành và sẽ chào giá ở một mức gấp một cơ số lần doanh thu;
- Chi phí thay thế: Trong một số trường hợp, mua bán được dựa trên việc cân nhắc yếu tố chi phí để thiết lập một công ty từ đầu so với mua một công ty đang có sẵn. Chẳng hạn, nếu tính một cách đơn giản giá trị công ty bao gồm toàn bộ tài sản cố định, trang thiết bị và đội ngũ nhân viên. Về lý thuyết, công ty đi mua có thể đàm phán mua lại công ty đang tồn tại với giá trị kể trên hoặc là thiết lập một công ty mới tương tự để cạnh tranh. Rõ ràng, để xây dựng một công ty mới sẽ mất một khoảng thời gian dài để tập hợp đội ngũ quản lý & nhân sự tốt, mua sắm tài sản và tìm kiếm khách hàng chưa kể việc ra đời phải cạnh tranh với công ty đang tồn tại trên thị trường.
Tuy nhiên phương pháp này cũng khó đối với các ngành dịch vụ, nơi mà tài sản quan trọng nhất là con người và phương thức dựa trên ý tưởng là chính.
- Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF): Đây là một công cụ định giá quan trong trong mua bán và sáp nhập. Mục đích của DCF là xác định giá trị hiện tại của công ty dựa trên ước tính dòng tiền mặt trong tương lai. Dòng tiền mặt ước tính (được tính bằng công thức “Lợi nhuận + khấu hao - chi phí vốn - thay đổi vốn lưu thông”) được chiết khấu đến giá trị hiên tại có tính đến trọng số trung bình vốn của công ty (WACC).
Tất nhiên DCF cũng có những hạn chế nhất định nhưng rất ít có công cụ nào có thể cạnh tranh được với phương thức định giá này về mặt phương pháp luận.
Thứ Tư, 30 tháng 1, 2008
Chân lý cuộc sống

Bạn đã từng nghe câu nói này
chưa?
“Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc nảy sinh từ những hy sinh gian khổ. Trên đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới. Điều cần thiết là phải có nghị lực để vượt qua ranh giới ấy…”
Chắc các bạn cảm thấy quen lắm phải không? Làm sao mà không quen được mở văn học 12 ra xem là biết liền à. Tuy nhiên, câu nói này đã in sâu trong tâm trí tôi từ thuở đó và tạo ra chân lý cuộc sống trong tôi. Nếu không được biết đến bài học này thì chắc chắn rằng tôi sẽ không thể tồn tại và trưởng thành cho đến bây giờ… Vì thế, khi bạn vấp ngã hoặc bi quan về việc gì đó thì bạn hãy lạc quan lên và nhớ rằng nó không phải con đường cùng mà là ranh giới cuộc đời bạn, hãy cố gắng nỗ lực và vượt qua ranh giới ấy. Chắc bạn sẽ thành công. Và tôi cũng vậy…(Nghĩ lại, sao mình lại có nhiều ranh giới thế nhỉ )
“Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc nảy sinh từ những hy sinh gian khổ. Trên đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới. Điều cần thiết là phải có nghị lực để vượt qua ranh giới ấy…”
Chắc các bạn cảm thấy quen lắm phải không? Làm sao mà không quen được mở văn học 12 ra xem là biết liền à. Tuy nhiên, câu nói này đã in sâu trong tâm trí tôi từ thuở đó và tạo ra chân lý cuộc sống trong tôi. Nếu không được biết đến bài học này thì chắc chắn rằng tôi sẽ không thể tồn tại và trưởng thành cho đến bây giờ… Vì thế, khi bạn vấp ngã hoặc bi quan về việc gì đó thì bạn hãy lạc quan lên và nhớ rằng nó không phải con đường cùng mà là ranh giới cuộc đời bạn, hãy cố gắng nỗ lực và vượt qua ranh giới ấy. Chắc bạn sẽ thành công. Và tôi cũng vậy…(Nghĩ lại, sao mình lại có nhiều ranh giới thế nhỉ )
Thứ Tư, 23 tháng 1, 2008
Yếu tố nào làm thay đổi lối sống
Lối sống bao gồm
nhiều yếu tố cấu thành như:
- Cách thức lao động, làm ăn, kinh doanh...
- Các phong tục tập quán
- Cách thức giao tiếp, ứng xử với nhau
- Quan niệm về đạo đức và nhân cách
Người ta không thể có lối sống, hay quyền hành động, tự do tuyệt đối. Trên thực tế bao giờ cũng có những sự ràng buộc nhất định. Một số chế độ chính trị quy định hay giám sát các hành vi sống. Một số nhà chính trị vô tình hoặc cố ý làm cho con người nhầm tưởng rằng tự nhiên họ đã bị ràng buộc như vậy. Thực ra, không nên chỉ huy hành vi mà nên chỉ huy các tiêu chuẩn văn hoá của hành vi. Khi người ta tạo ra các tiêu chuẩn văn hoá của hành vi thì tự nhiên con người cảm thấy rằng mình không còn phải tuân thủ một người hoặc một lực lượng nào đó, mà hành động theo các tiêu chuẩn xã hội văn hoá.
Trên lý thuyết, người ta phân biệt giữa lối sống cộng đồng và lối sống cá nhân. Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hoá, khái niệm này là tương đối.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà không ai có thề đứng ngoài mối quan tâm và lợi ích chung, không quốc gia nào có thể đứng ngoài các các mối quan tâm và quyền lợi của cộng đồng thế giới. Để tạo ra cuộc sống người ta phải đi lại, va chạm, gia nhập vào cộng đồng thế giới.
Trong xã hội hiện đại, nhờ những phương tiện kỹ thuật tiên tiến, sự giao lưu của con người không chỉ khắc phục được những hạn chế cố hữu về thời gian và không gian trước đây mà còn diễn ra với sự đổi mới cơ bản về chất, nghĩa là khoảng cách giữa lối sống cá nhân và lối sống cộng đồng càng ngày càng bị thu hẹp lại.
Cũng như hành vi cá nhân, lối sống cá nhân không tuyệt đối. Lối sống cá nhân bị lệ thuộc rất nhiều vào lối sống cộng đồng. Cộng đồng sống, với cá nhân đó, được định nghĩa như là một thói quen, một tiêu chuẩn được chấp nhận bởi cộng đồng sống thường xuyên mà người ta gọi là lưu trú, cư trú. Mật độ thời gian đi lại, giao lưu với các cộng đồng khác ngày càng lớn hơn do nhu cầu làm ăn phát triển, hội nhập, giao lưu... Như vậy các cá nhân không những va chạm với cộng đồng mình mà còn va chạm với cộng đồng khác và các cộng đồng cũng va chạm với nhau. Điều này tạo ra sự hình thành các tiêu chuẩn về lối sống, về giao lưu rất đặc biệt trong thời đại của chúng ta.
Việc hình thành thói quen, lối sống, các tiêu chuẩn hành vi càng ngày càng trở nên phức tạp. Các tiêu chuẩn và phong thái có tính chất khu trú càng ngày càng bị bẻ gẫy, nghiền nát, uốn mềm đi để phù hợp với tiêu chuẩn hội nhập. Hội nhập không phải là vấn đề chính trị mà là qui luật của đời sống hiện đại. Nhiều nhà lãnh đạo quốc gia đang xây dựng những quan hệ song phương rời rạc, trong khi đó điều cần thiết và không thể tránh khỏi là phải xây dựng quan hệ đa phương thống nhất.
Tất cả mọi người đều phải xây đựng một tiêu chuẩn sống, tiêu chuẩn hành vi của mình trên cơ sở hình thành các quan hệ đa phương. Vì vậy, lối sống phải được xây dựng trên tiêu chuẩn đa phương chứ không phải song phương như trước đây nữa. Các chính phủ đang cố gắng ký được các hiệp định kinh tế song phương. Ký hiệp định hợp tác kinh tế, đó chính là cách thoả thuận các lối sống về kinh tế. Nhưng việc ký các hiệp định song phương khác với những tiêu chuẩn khác nhau sẽ tạo cơ hội để các quan hệ song phương xé nát đời sống xã hội. Để tự bảo tồn trong các quan hệ song phương, người ta phải có một số tiêu chuẩn cơ bản để ứng xử và tiêu chuẩn ấy phải không thiên vị với từng cặp quan hệ song phương. Trong thời đại chúng ta, con người không thể sắp xếp một cách nhân tạo để tạo ra yếu tố đa phương trong các quan hệ song phương. Các cặp quan hệ song phương có tính trội sẽ tạo ra tính chỉ huy trong việc hình thành các tiêu chuẩn đa phương của hành vi.
Lối sống của con người luôn luôn thay đổi theo không phải bao giờ cũng tích cực. Một ví dụ rõ nét nhất là ảnh hưởng của chủ nghĩa vật chất thái quá. Những hậu quả của tâm lý chạy theo lợi nhuận thật là trầm trọng đối với xã hội và đối với lối sống của con người nói chung. Tâm lý này làm đảo lộn các thước đo giá trị và làm rạn nứt các quan hệ xã hội Nói đến lối sống, người ta buộc phải nói đến một khái niệm kề cận là nhân cách.
Chúng ta thường xem nhân cách như một sở hữu cá nhân, thực ra tính chất sở hữu cá nhân của nhân cách chỉ là một yếu tố tương đối. Và nhân cách cũng chỉ là chịu sự chi phối của các tiêu chuẩn cộng đồng. Con người giáo dục lẫn nhau theo nghĩa rộng, người hiểu biết dạy người kém hiểu biết hơn bằng sự thông thái của mình, nhưng người kém hiểu biết cũng có thể thức tỉnh người thông thái. Giáo dục là kết quả của quá trình giáo dục lẫn nhau. Giáo dục chuyên nghiệp thực ra chỉ có nhiệm vụ trang bị cho người ta vũ khí, công cụ để nhận thức chứ chưa phải là quá trình nhận thức.
Nhiều người cho rằng lối sống cộng đồng bao giờ cũng bị chi phối bởi một lực lượng thống trị có thế mạnh, vì vậy lối sống cộng đồng thực ra xuất phát từ lối sống của một số ít cá nhân. Từ đó, do địa vị chính trị, do thế lực của mình, họ quyết định việc hình thành nên cái gọi là lối sống cộng đồng.
Đó là một kết luận hết sức sai lầm. Thói quen cộng đồng là một khế ước không thành văn của các lực lượng xã hội.
Giai cấp thống trị có thể rất mạnh trong địa vị hành chính nhưng chưa chắc đã mạnh trong địa hạt của đời sống tình cảm là thứ chi phối thói quen cộng đồng không kém gì sức mạnh hành chính.
Trên thực tế hầu hết các sức mạnh hành chính đều lần lượt thất bại trước đòi hỏi tự nhiên của đời sống tình cảm, đời sống tâm lý con người. Chúng ta không nên cường điệu quá đáng vai trò của lực lượng thống trị.
Các thế lực thống trị đều là những thế lực nhất thời, còn nhân dân và con người là vĩnh cửu. Không có gì để so sánh giữa lực lượng thống trị và con người nói chung được. Nếu chúng ta nghiên cứu vai trò của lực lượng thống trị thì thấy rằng họ cũng là con người, họ cũng được hình thành từ đời sống thông thường như tất cả chúng ta. Vậy những gì ảnh hưởng đến lối sống cá nhân? Theo tôi, tất cả những gì tương tác với một cá nhân đều ảnh hưởng đến lối sống của cá nhân ấy.
Nếu bỗng nhiên một ngày nào đó, bạn nói rằng công ty này hoặc nhân vật này ảnh hưởng một cách sâu sắc đến nhân cách hoặc lối sống của bạn thì đấy chỉ là một sự ngộ nhận, bởi vì có nhiều yếu tố trước đó đã tạo ra khả năng để bạn tiếp nhận ảnh hưởng trực tiếp ấy. Nếu không được chuẩn bị, ta không thể tiếp nhận được các ảnh hưởng. Giống như quá trình bồi đắp phù sa của các dòng sông: hạt lắng đọng trước làm nền cho hạt sau, trong cuộc sống con người, việc nhận thức cái nọ là tiền đề để nhận thức cái kia. Điều này diễn ra lâu dài, nói cách khác, các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách của một con người không chỉ là các đại lượng nằm trên một mặt phẳng, mà còn là các yếu tố theo thời gian.
- Cách thức lao động, làm ăn, kinh doanh...
- Các phong tục tập quán
- Cách thức giao tiếp, ứng xử với nhau
- Quan niệm về đạo đức và nhân cách
Người ta không thể có lối sống, hay quyền hành động, tự do tuyệt đối. Trên thực tế bao giờ cũng có những sự ràng buộc nhất định. Một số chế độ chính trị quy định hay giám sát các hành vi sống. Một số nhà chính trị vô tình hoặc cố ý làm cho con người nhầm tưởng rằng tự nhiên họ đã bị ràng buộc như vậy. Thực ra, không nên chỉ huy hành vi mà nên chỉ huy các tiêu chuẩn văn hoá của hành vi. Khi người ta tạo ra các tiêu chuẩn văn hoá của hành vi thì tự nhiên con người cảm thấy rằng mình không còn phải tuân thủ một người hoặc một lực lượng nào đó, mà hành động theo các tiêu chuẩn xã hội văn hoá.
Trên lý thuyết, người ta phân biệt giữa lối sống cộng đồng và lối sống cá nhân. Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hoá, khái niệm này là tương đối.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà không ai có thề đứng ngoài mối quan tâm và lợi ích chung, không quốc gia nào có thể đứng ngoài các các mối quan tâm và quyền lợi của cộng đồng thế giới. Để tạo ra cuộc sống người ta phải đi lại, va chạm, gia nhập vào cộng đồng thế giới.
Trong xã hội hiện đại, nhờ những phương tiện kỹ thuật tiên tiến, sự giao lưu của con người không chỉ khắc phục được những hạn chế cố hữu về thời gian và không gian trước đây mà còn diễn ra với sự đổi mới cơ bản về chất, nghĩa là khoảng cách giữa lối sống cá nhân và lối sống cộng đồng càng ngày càng bị thu hẹp lại.
Cũng như hành vi cá nhân, lối sống cá nhân không tuyệt đối. Lối sống cá nhân bị lệ thuộc rất nhiều vào lối sống cộng đồng. Cộng đồng sống, với cá nhân đó, được định nghĩa như là một thói quen, một tiêu chuẩn được chấp nhận bởi cộng đồng sống thường xuyên mà người ta gọi là lưu trú, cư trú. Mật độ thời gian đi lại, giao lưu với các cộng đồng khác ngày càng lớn hơn do nhu cầu làm ăn phát triển, hội nhập, giao lưu... Như vậy các cá nhân không những va chạm với cộng đồng mình mà còn va chạm với cộng đồng khác và các cộng đồng cũng va chạm với nhau. Điều này tạo ra sự hình thành các tiêu chuẩn về lối sống, về giao lưu rất đặc biệt trong thời đại của chúng ta.
Việc hình thành thói quen, lối sống, các tiêu chuẩn hành vi càng ngày càng trở nên phức tạp. Các tiêu chuẩn và phong thái có tính chất khu trú càng ngày càng bị bẻ gẫy, nghiền nát, uốn mềm đi để phù hợp với tiêu chuẩn hội nhập. Hội nhập không phải là vấn đề chính trị mà là qui luật của đời sống hiện đại. Nhiều nhà lãnh đạo quốc gia đang xây dựng những quan hệ song phương rời rạc, trong khi đó điều cần thiết và không thể tránh khỏi là phải xây dựng quan hệ đa phương thống nhất.
Tất cả mọi người đều phải xây đựng một tiêu chuẩn sống, tiêu chuẩn hành vi của mình trên cơ sở hình thành các quan hệ đa phương. Vì vậy, lối sống phải được xây dựng trên tiêu chuẩn đa phương chứ không phải song phương như trước đây nữa. Các chính phủ đang cố gắng ký được các hiệp định kinh tế song phương. Ký hiệp định hợp tác kinh tế, đó chính là cách thoả thuận các lối sống về kinh tế. Nhưng việc ký các hiệp định song phương khác với những tiêu chuẩn khác nhau sẽ tạo cơ hội để các quan hệ song phương xé nát đời sống xã hội. Để tự bảo tồn trong các quan hệ song phương, người ta phải có một số tiêu chuẩn cơ bản để ứng xử và tiêu chuẩn ấy phải không thiên vị với từng cặp quan hệ song phương. Trong thời đại chúng ta, con người không thể sắp xếp một cách nhân tạo để tạo ra yếu tố đa phương trong các quan hệ song phương. Các cặp quan hệ song phương có tính trội sẽ tạo ra tính chỉ huy trong việc hình thành các tiêu chuẩn đa phương của hành vi.
Lối sống của con người luôn luôn thay đổi theo không phải bao giờ cũng tích cực. Một ví dụ rõ nét nhất là ảnh hưởng của chủ nghĩa vật chất thái quá. Những hậu quả của tâm lý chạy theo lợi nhuận thật là trầm trọng đối với xã hội và đối với lối sống của con người nói chung. Tâm lý này làm đảo lộn các thước đo giá trị và làm rạn nứt các quan hệ xã hội Nói đến lối sống, người ta buộc phải nói đến một khái niệm kề cận là nhân cách.
Chúng ta thường xem nhân cách như một sở hữu cá nhân, thực ra tính chất sở hữu cá nhân của nhân cách chỉ là một yếu tố tương đối. Và nhân cách cũng chỉ là chịu sự chi phối của các tiêu chuẩn cộng đồng. Con người giáo dục lẫn nhau theo nghĩa rộng, người hiểu biết dạy người kém hiểu biết hơn bằng sự thông thái của mình, nhưng người kém hiểu biết cũng có thể thức tỉnh người thông thái. Giáo dục là kết quả của quá trình giáo dục lẫn nhau. Giáo dục chuyên nghiệp thực ra chỉ có nhiệm vụ trang bị cho người ta vũ khí, công cụ để nhận thức chứ chưa phải là quá trình nhận thức.
Nhiều người cho rằng lối sống cộng đồng bao giờ cũng bị chi phối bởi một lực lượng thống trị có thế mạnh, vì vậy lối sống cộng đồng thực ra xuất phát từ lối sống của một số ít cá nhân. Từ đó, do địa vị chính trị, do thế lực của mình, họ quyết định việc hình thành nên cái gọi là lối sống cộng đồng.
Đó là một kết luận hết sức sai lầm. Thói quen cộng đồng là một khế ước không thành văn của các lực lượng xã hội.
Giai cấp thống trị có thể rất mạnh trong địa vị hành chính nhưng chưa chắc đã mạnh trong địa hạt của đời sống tình cảm là thứ chi phối thói quen cộng đồng không kém gì sức mạnh hành chính.
Trên thực tế hầu hết các sức mạnh hành chính đều lần lượt thất bại trước đòi hỏi tự nhiên của đời sống tình cảm, đời sống tâm lý con người. Chúng ta không nên cường điệu quá đáng vai trò của lực lượng thống trị.
Các thế lực thống trị đều là những thế lực nhất thời, còn nhân dân và con người là vĩnh cửu. Không có gì để so sánh giữa lực lượng thống trị và con người nói chung được. Nếu chúng ta nghiên cứu vai trò của lực lượng thống trị thì thấy rằng họ cũng là con người, họ cũng được hình thành từ đời sống thông thường như tất cả chúng ta. Vậy những gì ảnh hưởng đến lối sống cá nhân? Theo tôi, tất cả những gì tương tác với một cá nhân đều ảnh hưởng đến lối sống của cá nhân ấy.
Nếu bỗng nhiên một ngày nào đó, bạn nói rằng công ty này hoặc nhân vật này ảnh hưởng một cách sâu sắc đến nhân cách hoặc lối sống của bạn thì đấy chỉ là một sự ngộ nhận, bởi vì có nhiều yếu tố trước đó đã tạo ra khả năng để bạn tiếp nhận ảnh hưởng trực tiếp ấy. Nếu không được chuẩn bị, ta không thể tiếp nhận được các ảnh hưởng. Giống như quá trình bồi đắp phù sa của các dòng sông: hạt lắng đọng trước làm nền cho hạt sau, trong cuộc sống con người, việc nhận thức cái nọ là tiền đề để nhận thức cái kia. Điều này diễn ra lâu dài, nói cách khác, các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách của một con người không chỉ là các đại lượng nằm trên một mặt phẳng, mà còn là các yếu tố theo thời gian.
Con người và thời gian
Trong tất cả
những gì mà thiên nhiên ban tặng cho con người, thời gian là món quà quí giá
nhất. Đó là món quà kỳ lạ, không những không thêm được mà lại có thể dễ dàng mất
đi. Mỗi người chỉ có một sự sinh thành, một tuổi trẻ, một tuổi già, một cái
chết. Tiền bạc chia ra những đơn vị giống nhau, thời gian cũng chia ra những đơn
vị giống nhau, nhưng điểm khác biệt là, những đơn vị thời gian không bao giờ lặp
lại và một khi nó trôi qua thì chúng ta cũng không lấy lại được nó nữa. Bên cạnh
đó, quỹ thời gian vẫn luôn luôn hữu hạn cho dù nó khác nhau ở mỗi một con người.
Vì thế, nếu chúng ta không có thái độ trân trọng cần thiết, chúng ta sẽ gây ra
sự lãng phí thời gian. Mà đánh mất thời gian là đánh mất tất cả.
Con người, cũng như toàn bộ thế giới, không thể tồn tại bên ngoài thời gian. Nếu như những nhà hiện sinh nhấn mạnh vai trò của hiện tại thì con người, theo bản năng, thường hướng về tương lai. Thế nhưng trên thực tế, tương lai và hiện tại đều do quá khứ chi phối. Hơn nữa, đôi khi thật khó phân biệt một cách rõ ràng đâu là hiện tại, đâu là tương lai.
Xét theo ý nghĩa thời gian, hiện tại là ngày hôm nay, quá khứ là ngày hôm qua, và tương lai là ngày mai. Quá khứ luôn là cái đã qua, tương lai là cái ở trước mắt, hiện tại là ranh giới ở giữa hai không gian này và nó luôn luôn là một ranh giới động. Theo cách suy nghĩ thông thường, rõ ràng hiện tại là cái hiện thực nhất, thậm chí có ý nghĩa nhất. Nhưng suy nghĩ kỹ hơn, chúng ta sẽ nhận thấy cái khoảnh khắc được gọi là hiện tại đó thật ngắn ngủi, đến mức mà con người cảm nhận về nó không sâu sắc bằng quá khứ và thậm chí, con người không đón đợi nó như là tương lai. Trong khi đó, sự tồn tại của quá khứ thực ra là hiện hữu nhất vì nó tạo ra và để lại cho con người tất cả mọi thứ.
Xét theo quan điểm của Decartes, không gian cũng như thời gian phân chia một cách rất minh bạch. Tuy nhiên, chúng ta không nghiên cứu không gian hay thời gian theo quan điểm như vậy, chúng ta không nghiên cứu những cấu trúc của không gian theo định nghĩa thông thường. Ở đây, chúng ta nghiên cứu quá khứ đã hình thành cấu trúc tinh thần của con người như thế nào. Làm thế nào để những giá trị của quá khứ tiếp tục đóng góp cho tương lai? Toàn bộ cái thú vị của cuộc sống là ngày hôm nay, nhưng toàn bộ cái để tạo ra sự thú vị ngày hôm nay lại là ngày hôm qua, và bao giờ cũng vậy, quá khứ là một miền thời gian, một miền không gian hình thành tất cả những gì mà con người có.
Có thể nói, quá khứ là toàn bộ không gian để tạo ra con người, tạo ra kiến thức, tạo ra tâm hồn, tạo ra kinh nghiệm của loài người. Quá khứ là miền thực của mỗi người vì nó gắn liền và xác định một con người cụ thể. Nhìn vào một người, chúng ta có thể biết được về cơ bản quá khứ của họ thông qua việc xem xét chuỗi quan hệ nhân quả, hành vi, thói quen, tính cách, số phận của mỗi người. Triết học phương Đông hay phương Tây đều nói đến mối quan hệ này, và về bản chất, quan hệ nhân quả chính là quan hệ của quá khứ, hiện tại và tương lai.
Với mỗi cá nhân, mối quan hệ này thể hiện ở những bậc thang khác nhau. Một bức chân dung thực thụ của cá nhân không nằm ở diện mạo mà nằm ở số phận. Số phận mỗi người được tạo nên từ tính cách của chính người ấy. Vậy tính cách bắt nguồn từ đâu? Nó bắt đầu từ những hành vi tưởng chừng ngẫu nhiên của mỗi con người. "Gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tính cách, gieo tính cách gặt số phận". Thực chất của chuỗi quan hệ này chính là quy luật quá khứ hướng đạo tương lai. Quá khứ, nói một cách hình tượng, giống như lằn ray hướng tới tương lai. Trong mối quan hệ của chúng, hành vi là quá khứ của thói quen, thói quen là quá khứ của một tính cách, còn tính cách lại trở thành quá khứ của số phận. Như vậy, con người chính là hệ quả của quá khứ xét về quan điểm thời gian, cho nên con người là hệ quả của văn hoá, hệ quả của lịch sử, hệ quả của triết học.
Nhìn vào chuỗi hành vi có tính chất quyết định đến số phận của con người, chúng ta thấy rõ rằng quá khứ không chỉ chứa đựng cái tốt, quá khứ còn chứa đựng cả cái xấu. Điều đó có nghĩa, không chỉ cái tốt mà cả cái xấu cũng được xem xét trong mối tương quan với quá khứ, hiện tại, tương lai và cũng dựa trên những tiêu chuẩn hình thành trong quá khứ. Không có con người hoàn toàn tốt hoặc con người hoàn toàn xấu mà trong mỗi người có cả hai thứ đó. Chúng được tích tụ qua thời gian và nó là phần có thật trong mỗi một con người. Con người có thể đúng trong hoàn cảnh này, trong tình huống này nhưng chưa chắc đã đúng trong hoàn cảnh khác, trong tình huống khác. Nhưng dù đúng hay sai thì bên trong con người vẫn là một tâm hồn, là một không gian tinh thần có thể uốn nắn lại cho đúng và có thể khắc phục các sai trái.
Nói đến quá khứ là nói đến miền tinh thần của mỗi người, miền tinh thần của mỗi người với tất cả các thành tố của nó chính là toàn bộ quá khứ của người đó. Miền tinh thần của một cá thể phản ánh kích thước tự do bên trong của người đó thông qua phản ánh giá trị con người. Mỗi người có một miền tinh thần riêng của mình. Người nào có đời sống tinh thần phong phú, đa dạng thì chắc chắn người đó có tự do tinh thần. Ngược lại, nếu đời sống tinh thần khô héo thì có nghĩa là tự do bên trong con người không đủ lớn để tạo ra động lực phát triển cho chính mình. Tuy nhiên, không ai thông báo với nhân loại rằng tôi có miền tinh thần này hay miền tinh thần kia, cũng không ai biết chắc chắn miền tinh thần của mình hình dạng ra sao. Nhưng mỗi người cần phải có ý thức làm chủ cái tự do bên trong của mình. Để có thể làm chủ không gian tự do bên trong, con người phải biết được các quy luật của tự do trong không gian ấy. Xác lập các quy luật của tự do diễn ra trong miền tinh thần của con người là một nửa nhiệm vụ của nghiên cứu khoa học về tự do.
Miền tinh thần không chỉ là các cảm xúc, miền tinh thần còn là miền nhận thức. Tự do là sự dịch chuyển song song giữa ý nghĩ và hành vi, điều đó có nghĩa, ý nghĩ và hành vi là kết quả của tự do bên trong. Tự do bên trong thúc đẩy con người dịch chuyển, nếu sự dịch chuyển ấy không bị ngăn cản thì ở đấy con người có cả tự do bên trong và tự do bên ngoài. Chúng ta cần nhớ rằng, thể hiện sống của con người là hành động, nhưng thể hiện sống của cái trước hành động là ý nghĩ. Vì thế, tự do bên trong không gian tinh thần của con người là nền tảng ban đầu để con người chuẩn bị các hành vi thích hợp. Tự do bên trong đời sống tinh thần sẽ càng mở rộng và phong phú nếu nó được hỗ trợ bởi tự do bên ngoài hay tự do khách quan. Khi tự do là kết quả của sự dịch chuyển song song giữa ý nghĩ và hành vi của mỗi người thì tức là con người làm chủ được cả hai không gian tự do của mình.
Từ những phân tích trên cho thấy, quá khứ là một phần không thể tách rời mỗi con người hay mỗi dân tộc, bởi vì suy cho cùng, nếu ai đó làm được điều ấy thì có nghĩa là anh ta đã phủ nhận sự tồn tại của chính mình. Quá khứ là toàn bộ không gian hình thành nên con người với đầy đủ chân dung, số phận của nó. Do vậy, nhận thức đúng đắn về lịch sử, về quá khứ đã qua và quá khứ đang tới chính là cơ sở để mỗi người, mỗi dân tộc hoạch định tương lai của mình. Trên thực tế, con người vẫn luôn là chính nó nhưng giá trị con người, cả cái tốt lẫn cái xấu thì thay đổi theo thời gian cùng với sự vận động của con người. Vấn đề là mỗi người, mỗi dân tộc phải sống như thế nào để khi ngoảnh đầu nhìn lại có thể tự hào về những gì mà mình đã có, đó cũng chính là bệ phóng cho tương lai tốt đẹp của mỗi một con người.
Con người, cũng như toàn bộ thế giới, không thể tồn tại bên ngoài thời gian. Nếu như những nhà hiện sinh nhấn mạnh vai trò của hiện tại thì con người, theo bản năng, thường hướng về tương lai. Thế nhưng trên thực tế, tương lai và hiện tại đều do quá khứ chi phối. Hơn nữa, đôi khi thật khó phân biệt một cách rõ ràng đâu là hiện tại, đâu là tương lai.
Xét theo ý nghĩa thời gian, hiện tại là ngày hôm nay, quá khứ là ngày hôm qua, và tương lai là ngày mai. Quá khứ luôn là cái đã qua, tương lai là cái ở trước mắt, hiện tại là ranh giới ở giữa hai không gian này và nó luôn luôn là một ranh giới động. Theo cách suy nghĩ thông thường, rõ ràng hiện tại là cái hiện thực nhất, thậm chí có ý nghĩa nhất. Nhưng suy nghĩ kỹ hơn, chúng ta sẽ nhận thấy cái khoảnh khắc được gọi là hiện tại đó thật ngắn ngủi, đến mức mà con người cảm nhận về nó không sâu sắc bằng quá khứ và thậm chí, con người không đón đợi nó như là tương lai. Trong khi đó, sự tồn tại của quá khứ thực ra là hiện hữu nhất vì nó tạo ra và để lại cho con người tất cả mọi thứ.
Xét theo quan điểm của Decartes, không gian cũng như thời gian phân chia một cách rất minh bạch. Tuy nhiên, chúng ta không nghiên cứu không gian hay thời gian theo quan điểm như vậy, chúng ta không nghiên cứu những cấu trúc của không gian theo định nghĩa thông thường. Ở đây, chúng ta nghiên cứu quá khứ đã hình thành cấu trúc tinh thần của con người như thế nào. Làm thế nào để những giá trị của quá khứ tiếp tục đóng góp cho tương lai? Toàn bộ cái thú vị của cuộc sống là ngày hôm nay, nhưng toàn bộ cái để tạo ra sự thú vị ngày hôm nay lại là ngày hôm qua, và bao giờ cũng vậy, quá khứ là một miền thời gian, một miền không gian hình thành tất cả những gì mà con người có.
Có thể nói, quá khứ là toàn bộ không gian để tạo ra con người, tạo ra kiến thức, tạo ra tâm hồn, tạo ra kinh nghiệm của loài người. Quá khứ là miền thực của mỗi người vì nó gắn liền và xác định một con người cụ thể. Nhìn vào một người, chúng ta có thể biết được về cơ bản quá khứ của họ thông qua việc xem xét chuỗi quan hệ nhân quả, hành vi, thói quen, tính cách, số phận của mỗi người. Triết học phương Đông hay phương Tây đều nói đến mối quan hệ này, và về bản chất, quan hệ nhân quả chính là quan hệ của quá khứ, hiện tại và tương lai.
Với mỗi cá nhân, mối quan hệ này thể hiện ở những bậc thang khác nhau. Một bức chân dung thực thụ của cá nhân không nằm ở diện mạo mà nằm ở số phận. Số phận mỗi người được tạo nên từ tính cách của chính người ấy. Vậy tính cách bắt nguồn từ đâu? Nó bắt đầu từ những hành vi tưởng chừng ngẫu nhiên của mỗi con người. "Gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tính cách, gieo tính cách gặt số phận". Thực chất của chuỗi quan hệ này chính là quy luật quá khứ hướng đạo tương lai. Quá khứ, nói một cách hình tượng, giống như lằn ray hướng tới tương lai. Trong mối quan hệ của chúng, hành vi là quá khứ của thói quen, thói quen là quá khứ của một tính cách, còn tính cách lại trở thành quá khứ của số phận. Như vậy, con người chính là hệ quả của quá khứ xét về quan điểm thời gian, cho nên con người là hệ quả của văn hoá, hệ quả của lịch sử, hệ quả của triết học.
Nhìn vào chuỗi hành vi có tính chất quyết định đến số phận của con người, chúng ta thấy rõ rằng quá khứ không chỉ chứa đựng cái tốt, quá khứ còn chứa đựng cả cái xấu. Điều đó có nghĩa, không chỉ cái tốt mà cả cái xấu cũng được xem xét trong mối tương quan với quá khứ, hiện tại, tương lai và cũng dựa trên những tiêu chuẩn hình thành trong quá khứ. Không có con người hoàn toàn tốt hoặc con người hoàn toàn xấu mà trong mỗi người có cả hai thứ đó. Chúng được tích tụ qua thời gian và nó là phần có thật trong mỗi một con người. Con người có thể đúng trong hoàn cảnh này, trong tình huống này nhưng chưa chắc đã đúng trong hoàn cảnh khác, trong tình huống khác. Nhưng dù đúng hay sai thì bên trong con người vẫn là một tâm hồn, là một không gian tinh thần có thể uốn nắn lại cho đúng và có thể khắc phục các sai trái.
Nói đến quá khứ là nói đến miền tinh thần của mỗi người, miền tinh thần của mỗi người với tất cả các thành tố của nó chính là toàn bộ quá khứ của người đó. Miền tinh thần của một cá thể phản ánh kích thước tự do bên trong của người đó thông qua phản ánh giá trị con người. Mỗi người có một miền tinh thần riêng của mình. Người nào có đời sống tinh thần phong phú, đa dạng thì chắc chắn người đó có tự do tinh thần. Ngược lại, nếu đời sống tinh thần khô héo thì có nghĩa là tự do bên trong con người không đủ lớn để tạo ra động lực phát triển cho chính mình. Tuy nhiên, không ai thông báo với nhân loại rằng tôi có miền tinh thần này hay miền tinh thần kia, cũng không ai biết chắc chắn miền tinh thần của mình hình dạng ra sao. Nhưng mỗi người cần phải có ý thức làm chủ cái tự do bên trong của mình. Để có thể làm chủ không gian tự do bên trong, con người phải biết được các quy luật của tự do trong không gian ấy. Xác lập các quy luật của tự do diễn ra trong miền tinh thần của con người là một nửa nhiệm vụ của nghiên cứu khoa học về tự do.
Miền tinh thần không chỉ là các cảm xúc, miền tinh thần còn là miền nhận thức. Tự do là sự dịch chuyển song song giữa ý nghĩ và hành vi, điều đó có nghĩa, ý nghĩ và hành vi là kết quả của tự do bên trong. Tự do bên trong thúc đẩy con người dịch chuyển, nếu sự dịch chuyển ấy không bị ngăn cản thì ở đấy con người có cả tự do bên trong và tự do bên ngoài. Chúng ta cần nhớ rằng, thể hiện sống của con người là hành động, nhưng thể hiện sống của cái trước hành động là ý nghĩ. Vì thế, tự do bên trong không gian tinh thần của con người là nền tảng ban đầu để con người chuẩn bị các hành vi thích hợp. Tự do bên trong đời sống tinh thần sẽ càng mở rộng và phong phú nếu nó được hỗ trợ bởi tự do bên ngoài hay tự do khách quan. Khi tự do là kết quả của sự dịch chuyển song song giữa ý nghĩ và hành vi của mỗi người thì tức là con người làm chủ được cả hai không gian tự do của mình.
Từ những phân tích trên cho thấy, quá khứ là một phần không thể tách rời mỗi con người hay mỗi dân tộc, bởi vì suy cho cùng, nếu ai đó làm được điều ấy thì có nghĩa là anh ta đã phủ nhận sự tồn tại của chính mình. Quá khứ là toàn bộ không gian hình thành nên con người với đầy đủ chân dung, số phận của nó. Do vậy, nhận thức đúng đắn về lịch sử, về quá khứ đã qua và quá khứ đang tới chính là cơ sở để mỗi người, mỗi dân tộc hoạch định tương lai của mình. Trên thực tế, con người vẫn luôn là chính nó nhưng giá trị con người, cả cái tốt lẫn cái xấu thì thay đổi theo thời gian cùng với sự vận động của con người. Vấn đề là mỗi người, mỗi dân tộc phải sống như thế nào để khi ngoảnh đầu nhìn lại có thể tự hào về những gì mà mình đã có, đó cũng chính là bệ phóng cho tương lai tốt đẹp của mỗi một con người.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)