2. Điêu khắc
3. Hội họa
4. Âm nhạc
5. Văn Chương
6. Sân khấu
7. Điện ảnh
1. Kiến trúc và trang
trí
Kiến trúc và trang
trí là các loại hình nghệ thuật xuất
hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau
bởi tính đặc thù của nó. Kiến trúc và trang trí đều có ý nghĩa thực dụng rất rõ
nét; một mặt nó là lĩnh vực tinh thần – sáng tạo nghệ thuật và lĩnh vực vật chất
– sáng tạo trong sản xuất vật chất. Thật khó có thề hình dung một công trình
kiến trúc từ nhà ở, đến thánh đường của các nhà thờ Thiên chúa giáo, Hồi giáo,
đình chùa Phật giáo lại thiếu sự luân chuyển nhịp nhàng, uyển chuyển và sự kết
hợp các đường nét hình học cách điệu và các yếu tố tạo hình hợp thành hoa văn –
họa tiết. Cũng chính vì vậy, trang trí như một bộ phận hợp thành toàn bộ công
trình kiến trúc, song mặt khắc bản thân nó cũng có thể được coi là một tác phẩm
nghệ thuật hội họa riêng biệt, độc
đáo.
- Kiến trúc là một loại hình nghệ thuật mà cho
đến ngày nay trong nghệ thuật vẫn còn diễn ra những cuộc tranh cãi rằng, nó có
thuộc nghệ thuật hay không (1)? Xét về chức năng của nó, thì kiến trúc là thực
dụng (2), nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật
chất của xã hội, và trước hết là nhu cầu về nhà ở, công trình để lao động, nghỉ
ngơi và điều hành các chức năng xã hội. Nhưng đồng thời kiến trúc là một nghệ
thuật riêng biệt, trong đó cũng như nghệ thuật ứng dụng, điều có ý nghĩa quan
trọng không chỉ là chức năng thực dụng, công dụng thực tế của các công trình, mà
còn là bản chất thẩm mỹ của chúng, sự tác động giữa tư tưởng – tình cảm, sự thỏa
mãn nhu cầu cái đẹp của con
người.
Đặc trưng của ngôn ngữ của nghệ
thuật kiến trúc là ở chỗ, trong hai tính năng phục vụ lợi ích và thẩm mỹ, thì
tính năng phục vụ lợi ích có ý nghĩa nội dung, mang tích mục đích, tính năng
thẩm mỹ mang ý nghĩ hình thức. Cho nên, các hình tượng của nó trước hết,
mang tính chất ích dụng; mặt khác cái đẹp về hình thức kết hợp cái ích dụng vật
chất – tinh thần lại phản ánh những tư tưởng chung, về sự khẳng định cuộc sống,
về tầm vĩ đại, về sự hùng mạnh của những tư tưởng thẩm mỹ về cái
đẹp.
Là nghệ thuật chiếm lĩnh không
gian, bằng phương pháp tạo hình, nên cái đẹp trong kiến trúc được tạo dựng thông
qua hình khối, đường nét, các tỷ lệ,
nhịp điệu và kiểu dáng cao – thấp,
rộng – hẹp, cong – thẳng, mau – thưa. Nhưng do những điều kiện lịch sử, tôn giáo
khác nhau mà các phong cách kiến trúc cũng khác nhau. Do đó, kiến trúc châu Âu
khác với kiến trúc châu Á, kiến trúc Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo cũng
khác nhau. Chẳng hạn như kiến trúcBigiăngtanh, Rômăng, Gôtích trong thời kỳ Trung cổ
(3).
Trong đặc trưng ngôn ngữ của nghệ
thuật kiến trúc tác động, gợi ý nghĩa bằng đặc tính chất liệu của nó từ đất, đá,
gỗ, mây, tre, nứa, lá, kim loại. Kiến trúc bao gồm nhiều thể loại được phân theo
chức năng của công trình như kiến
trúc dân dụng, kiến trúc công cộng, kiến trúc tôn giáo, công
viên.
- Trang trí cũng là loại hình có từ lâu đời gắn bó
mật thiết với nghệ thuật kiến trúc, mà đặc điểm nổi bật của nó cũng bao hàm tính
năng phục vụ lợi ích và thẩm
mỹ. Đặc trưng của nghệ thuật trang
trí là hình trang trí hoặc hoa
văn. Các yếu tố hợp thành hoa văn là họa tiết và nhịp điệu. Trong đó các
họa tiết kết hợp các đường nét hình học theo một kiểu nào đó thì nhịp điệu lại
nối các họa tiết với nhau thành một khối thống nhất, lặp đi, lặp lại nhiều lần
tạo sự hài hòa, nhịp nhàng và thống nhất giữa các yếu tố trong một tác phẩm
trang trí.
Nghệ thuật trang trí bao gồm nhiều
thể loại, từ sự trang điểm cho con người, đến trang trí nội thất và tạo dáng,
tạo mẫu mã hàng hoá nói chung, thuộc về mỹ thuật công nghiệp, có tên gọi là Design. Trong xã hội hiện đại ngày nay, Design càng có vai trò hết sức quan trọng góp phần
làm đẹp thế giới các đồ vật từ những vật dụng sinh hoạt thường ngày đến hàng
hoá, đến môi trường sống, làm việc và hoạt động nói chung của con
người
2. Điêu khắc
Điêu khắc là loại hình nghệ thuật
không gian, nó phản ánh hiện thực bằng hình khối không gian ba chiều có thể
tích. Đối tượng căn bản gần như độc
nhất của điêu khắc là con người. Do chỗ điêu khắc hầu như không thể hiện bối
cảnh, hoàn cảnh hoạt động của nhân vật, việc thể hiên hình tượng hầu như hoàn
toàn dựa vào cách thể hiên diện mạo bên ngoài của con người; nhưng nó còn phát
hiện bản chất bên trong của đối tượng, thể hiện những phẩm chất tiêu biểu của
đối tượng.
Tượng là không gian hình khối, được
chia thành hai loại như tượng tròn, tượng nửa khối gắn nổi trên mặt phẳng gọi là
tượng đắp nổi. Trong tượng tròn có nhiều nhân vật (đối tượng) là cách gọi theo chức năng và
qui mô của nó như tượng đài, tượng
trang trí (do đặt nơi công cộng
ngoài trời hay trong nội thất). Chính vì vậy, sản phẩm của điêu khắc có nhiêu
loại như tượng tròn, chạm nổi, khắc chìm với những kích cỡ to, nhỏ khác nhau,
tượng trang trí, chân
dung.
Chất liệu có ý nghĩa rất quan trọng
với ngôn ngữ điêu khắc và nó luôn thề hiện ở chất liệu gỗ, đá, thạch cao, kim
loại… Câu “Tượng đồng bia
đá” nói lên tính chất vững bền của
các chất liệu được dùng trong điêu khắc. Tính độc đáo của hình tượng của điêu
khắc mà đối tượng là con người thường thể hiện ở việc xây dựng tư thế, động tác
điển hình có tính khái quát cao liên quan tới tính cách đặc trưng của nhân vật.
Chẳng hạn, tượng “Đavít” của Mikenlănggiơ (4), tượng Phù Đổng Thiên Vương, hoặc
tượng Trần Hưng Đạo ở thành phố Hồ Chí Minh, tượng đài chiến sỹ Điện
Biên…
Các chủ đề của điêu khắc của chúng
ta hiện nay, rất phong phú, đa dạng, đòi hỏi phải có nhiều tác phẩm điêu khắc
nhiều hơn nữa để phản ánh lịch sử hào hùng của dân tộc cũng như với hai cuộc
chiến tranh chống thực dân, đế quốc và sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhưng thật
đáng tiếc chúng ta còn quá ít các tượng đài, chứ chưa nó đến nhóm quần thể tượng
đài hoành tráng có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, để giáo dục truyền
thống.
3. Hội họa
Hội họa là nghệ thuật không gian
mặt phẳng – tìm không gian ba chiều trên mặt phẳng. Tuy chỉ ghi được một khoảnh
của hành động, song nó vẫn có khả năng thể hiện được ý nghĩa của cử chỉ, động
tác của đối tượng và nó cũng thể hiện được hình khối của đối tượng dưới những
hình thức cụ thể khác nhau. Khi cảm thụ tác phẩm hội họa chúng ta vẫn có cảm
giác được chiều sâu, độ gần xa về khoảng cách của bố cục theo tiêu điểm, diện về
mặt đường nét, mầu sắc của đối tượng phản ánh, thậm chí cả cảm giác được cái
sinh động, sống động như thật của đối
tượng.
Trong hội họa đường nét, màu sắc là
ngôn ngữ đặc trưng của hội họa. Hội họa có ưu thế đặc biệt trong việc phản ánh
thế giới với mọi màu sắc phong phú, tinh tế của nó và hòa sắc của tác phẩm làm
cho nó có sức biểu hiện sâu sắc, tế nhị về tình cảm. Ánh sáng, bóng tối và sự
kết hợp uyển chuyển giữa các đường nét, màu sắc với các thủ pháp xa – gần
(khoảng cách phù hợp) của hội họa tạo ra cảm giác không gian ba chiều (5). Khả
năng tạo hình của hội có ý nghĩa rất lớn, nó nói lên được tư tưởng và tình cảm
con người trên mọi cung bậc và sắc thái khác nhau. Song hội họa chỉ có thể gợi
lên quá trình phát triển của các biến cố trong phạm vi những khoảnh khắc mà nó
thể hiện chứ không miêu tả được đầy đủ quá trình phát triển sinh động của hiện
thực như văn chương, điện ảnh, hoặc sân
khấu.
Về thể loại hội họa có tranh trên giá, tranh hoành tráng, tranh
chân dung, tranh phong cảnh, tranh “bố cục”, tranh tĩnh
vật…
4. Âm nhạc
Âm nhạc là loại hình nghệ thuật
thời gian, chiếm lĩnh nhịp điệu, tiết tấu, âm vực; nghĩa là nó sử dụng âm thanh
để thể hiện tâm tư, tình cảm, tư tưởng và những mong muốn của con người. Hình
tượng của nghệ thuật âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của bảy nốt nhạc với
các thăng trầm của nó biến hoá vô tận như là các chữ cái của ngôn
ngữ.
Các âm vực trầm bổng với sắc thái
cao độ – trường độ (trầm, bổng – nhanh, chậm) là hai thuộc tính cơ bản của ngôn
nhữ âm nhạc tạo nên giai điệu – sắc thái ngôn ngữ của âm nhạc. Người nghệ sỹ xây
dựng nên những hình tượng âm nhạc: giai điệu, nhịp điệu, hoà âm, điệu thức, âm
sắc. Trong đó giai điệu có tính quyết định trong một tác phẩm âm nhạc. Bằng sự
vận dụng các yếu tố và thuộc tính trên, thế giới âm thanh vật lý được “nhân tính
hoá” trở thành những hình tượng mang ý nghĩa thẩm mỹ, diễn tả sâu sắc thế giới
tâm hồn con
người.
Điều đáng chú ý là âm nhạc phát
hiện các trạng thái nội tại mà không cần phải miêu tả các hình thái bên ngoài
của chúng như các loại hình nghệ thuật khác, nó chỉ tập trung biểu hiện cảm xúc
và rung động trong quá trình phát triển liên tục và năng động của nó với tất cả
cá sắc thái và sự chuyển hoá phong phú. Chính vì vậy người ta coi âm nhạc nói
với con người bằng “ngôn ngữ trực tiếp của tâm hồn”, vì rằng cơ sở nội dung
trong hình tượng âm nhạc trước hết là những cảm xúc, những tình cảm của con
người.
Đối với âm nhạc, tình cảm không chỉ
là đối tượng phản ánh gần gũi, sinh động, tinh tế nhất mà còn là phương tiện để
trình bày một chân dung cuộc sống rộng lớn, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Âm
nhạc là một phương tiện mạnh mẽ, tinh tế, năng động để giáo dục thẩm mỹ, tình
cảm cho con
người.
Về thể loại, âm nhạc có: thanh nhạc (ca khúc, tổ
khúc, opéra); khí nhạc (étude, sonata, conserto,
symphonie).
5. Văn chương
Văn chương giữ một vị trí quan
trọng đặc biệt trong hệ thống các loại hình nghệ thuật. Bởi ngôn ngữ của văn
chương làm cơ sở biểu hiện cho nhiều loại hình nghệ thuật (làm kịch bản cho sân
khấu, điện ảnh, phần lời cho âm nhạc, vũ điệu, lời bình cho cho việc đánh giá
các tác phẩm nghệ thuật khác). không phải ngẫu nhiên mà người ta thuờng chia
đôi văn chương và nghệ
thuật.
Ngôn ngữ văn chương là ngôn từ, hay nói chính xác là ngôn ngữ của con người làm phương tiện xây dựng hình tượng để phản
ánh cuộc sống. Với lợi thế của ngôn từ, văn chương có thể đề cập tới mọi phương
diện của đời sống hiện thực; có khả năng phản ánh linh hoạt, nhanh nhạy và đầy
đủ, chính xác đến mọi góc cạnh tính cách của nhân vật hoặc của cuộc sống xã hội.
Là loại hình nghệ thuật có khả năng tạo hình và có khả năng biểu hiện đa dạng,
nó không những có thể mô tả con người với những hành động cụ thể trong khoảnh
khắc và cả quá trình, mà còn có thể nói rõ và đầy đủ những tư tưởng, tình cảm
của con người một cách tinh vi và sâu
sắc.
Đối với loại hình nghệ thuật khác
thì hình tượng nghệ thuật tồn tại ngay trong bản thân tác phẩm, ở ngoài chủ thể
cảm thụ, nhưng đối với văn chương thì hình tượng chỉ hiện lên trong trí tưởng
tượng của người đọc, ở chủ thể cảm thụ. Đặc điểm này làm cho văn chương sống
trong tư tưởng, trong sự tích cực chủ động tưởng tượng, liên tưởng, sáng tạo của
người thưởng thức. Vì ngôn ngữ văn chương là tiếng nói, thể hiện trực tiếp tư
duy con người – công cụ, phương tiện vật chất hoá tư duy và công cụ, phương tiện
thông tin phổ biến nhất của con
người.
Văn chương có khả năng phản ánh cả
hiện thực thế giới bên ngoài và nội tâm bên trong con người một cách đầy đủ và
chính xác. Do đó, nghệ thuật văn chương thường kết hợp với các loại hình nghệ
thuật khác để có thể tăng thêm sức mạnh tiềm ẩn của nó, sự tác động của nó. Ví
như thơ được đọc, ngâm trên nền nhạc đệm, tiểu thuyết có tranh minh
họa.
Về thể loại, văn chương có: tự sự (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết); trữ tình (thơ trữ tình, tùy
bút)…
6. Sân khấu (6)
Sân khấu là loại hình nghệ thuật tổng hợp có lịch sử lâu đời. Bằng sự kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật khác như văn chương, hội họa, kiến trúc, âm nhạc, múa và hiện nay còn bao gồm cả điện ảnh. Sân khấu tạo nên các hình tượng nghê thuật sống động đối với công chúng nghệ thuật. Ngôn ngữ đặc trưng là hành động (hành động hình thể, hành động tâm lý, hành động ngôn ngữ), thông qua diễn xuất của diễn viên. Hành động sân khấu là hành động kịch, hành động mang tính xung đột, nhằm biểu hiện tư tưởng của kịch mang tính nhất quán chứ không phải bất kỳ hành động có tính chất ngẫu nhiên nào.
Sân khấu là loại hình nghệ thuật tổng hợp có lịch sử lâu đời. Bằng sự kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật khác như văn chương, hội họa, kiến trúc, âm nhạc, múa và hiện nay còn bao gồm cả điện ảnh. Sân khấu tạo nên các hình tượng nghê thuật sống động đối với công chúng nghệ thuật. Ngôn ngữ đặc trưng là hành động (hành động hình thể, hành động tâm lý, hành động ngôn ngữ), thông qua diễn xuất của diễn viên. Hành động sân khấu là hành động kịch, hành động mang tính xung đột, nhằm biểu hiện tư tưởng của kịch mang tính nhất quán chứ không phải bất kỳ hành động có tính chất ngẫu nhiên nào.
Kịch bản văn chương là cơ sở của
chủ đề tư tưởng, là cái cốt của tác phẩm sân khấu. Diễn viên là người biểu hiện
ý đồ của vở diễn, nhưng họ có vai trò đặc biệt quan trọng đến sự thành công hoặc
thất bại của vở diễn. Ngoài nhân tố cơ bản là hành động kịch, nghệ thuật sân
khấu còn có những phương tiện như âm nhạc, múa, trang trí, đạo cụ hỗ trợ cho
diễn xuất. Ở đây, vai trò của diễn viên là vô cùng quan
trọng.
Về thể loại, sân khấu có: kịch nói, kịch hát,
kịch rối, kịch truyền hình, truyền thanh, kịch
câm…
7. Điện ảnh
Điện ảnh là loại hình nghệ thuật
trẻ, nó xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, sau khi ra đời nó đã trở thành
loại hình quan trọng bậc nhất xét về tính quần chúng rộng lớn của nó, đáp ứng
cao nhu cầu thẩm mỹ của thời
đại.
Sự ra đời của điện ảnh gắn liền với
tiến bộ của khoa học – kỹ thuật và công nghệ; nó kết hợp các thành tựu của khoa
học và công nghệ với các phuơng tiện của nhiều loại hình nghệ thuật khác tạo cho
điện ảnh có tính tổng hợp cao
nhất.
Phương tiện ngôn ngữ của điện ảnh
cũng là hành động nhưng nó khác với sân khấu. Ở đây hành động nhân vật vẫn là
yếu tố hạt nhân, nhưng đồng thời nghệ thuật quay phim, dựng phim, cũng có một ý
nghĩa quyết định. Bởi hình ảnh phim là hình ảnh không gian đa chiều hết sức đa
dạng và phong phú được đạo diễn và nghệ sỹ quay phim biến đổi liên tục theo
những góc độ, tầm cỡ, cự ly khác nhau để biểu đạt tư tưởng, tính cách, nhân
vật.
Cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật
điện ảnh lệ thuộc vào nghệ thuật dựng phim khi xét nó từ quá trình kịch bản văn
học sang kịch bản phim, kịch bản phân cảnh đến dựng phim đó là cả một quá trình
sáng tạo thể hiện ý đồ của đạo diễn trong việc tạo ra tác phẩm điện ảnh. Ngoài
ra còn có vô số các yếu tố nghệ thuật và kỹ thuật khác có vai trò hỗ trợ quan
trọng dưới nhiều hình thức khác nhau: âm nhạc và âm thanh nói chung (tiếng
động), ánh sáng, hội họa, trang trí - thiết kế nhân vật và bối cảnh. Với kỹ
thuật điện toán (kỹ thuật số), ngày nay điện ảnh đã tiến những bước dài về kỹ
thuật (kỹ xảo) về kỹ thuật hỗ trợ cho điện
ảnh.
Về thể loại, điện ảnh có: phim nghệ thuật trong điện ảnh và phim
truyền hình, phim họa hình, phim tài liệu, phim thời
sự.
(1)
Theo quan điểm của IU.A.Lukin và V.C.Xagherơsíccốp – các nhà mỹ học Liênxô
.
(2) Appliqué – tiếng Pháp: thực hành – ứng dụng, có nghĩa là đưa những phương thức và phương tiện thẩm mỹ vào thực tế cuộc sống, trong đó tính lợi ích như một yếu tố thẩm mỹ khách quan.
(3) Các kiểu kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo thời trung cổ.
(4) Tượng cao hơn 5,5 mét, là hình tượng người lực sỹ khoả thân khổng lồ, đầy sức mạnh với vẻ hùng dũng, oai phong. Hiện nay, tác phẩm này vẫn còn ở quang trường Phơlôrăngxơ (Italya).
(5) Phải nói đến những kiệt tác: “Mona Lisa hoặc La Joconde”, hoặc bức tranh “Bữa tiệc cuối cùng” của Lêônađờvanhxi.
(2) Appliqué – tiếng Pháp: thực hành – ứng dụng, có nghĩa là đưa những phương thức và phương tiện thẩm mỹ vào thực tế cuộc sống, trong đó tính lợi ích như một yếu tố thẩm mỹ khách quan.
(3) Các kiểu kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo thời trung cổ.
(4) Tượng cao hơn 5,5 mét, là hình tượng người lực sỹ khoả thân khổng lồ, đầy sức mạnh với vẻ hùng dũng, oai phong. Hiện nay, tác phẩm này vẫn còn ở quang trường Phơlôrăngxơ (Italya).
(5) Phải nói đến những kiệt tác: “Mona Lisa hoặc La Joconde”, hoặc bức tranh “Bữa tiệc cuối cùng” của Lêônađờvanhxi.
(6) Nhóm nghệ thuật
tổng hợp (sân khấu, điện ảnh). Nghệ thuật tổng
hợp vận dụng tất cả các phương thức và phương tiện thể hiện của nghệ thuật độc
lập: Văn học, âm nhạc, múa, hội họa, trang trí, kiến trúc… Trong điện ảnh có
quay phim, dựng phim, nhiếp ảnh…
Sưu tầm trên
Web Blog của Đào Duy Thanh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét