Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhận định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhận định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

NGUYỄN CAO CAN * Nguyễn Bính, Nhà thơ bình dân Si Tình và Lãng Mạn

Ai đọc thơ của nhà thơ Nguyễn Bính mà không thấy cái độc đáo của hồn dân tộc đã ấp ủ trong thơ của ông, hay nói cách khác Nguyễn Bính đã đưa hồn dân tộc vào thi ca Việt nam hiện đại. Ông là người đã góp công rất lớn vào nền văn học Việt Nam, những câu thơ giản dị, bình dân đã làm cho người đọc, khi đọc lên chỉ một lần đã thấy lòng mình lâng lâng giao cảm, dễ đọc, dễ mến và nhất là dễ thuộc. Nhưng có ai ngờ được rằng Nguyễn Bính lại có một cuộc sống lãng mạn và giang hồ giống như thơ của ông.

Nguyễn Bính thi sĩ lãng mạn và giang hồ.

Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, Bút hiệu của ông là Nguyễn Bính, sinh năm 1918 tại xóm Trạm, thôn Thiên Vịnh, xã Đồng Đội nay là xã Cộng Hoà, huyện Vụ Bản thuộc tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ lúc mới lên ba, do đó bố ông có một bà kế mẫu, nhưng nhà vẫn nghèo nên ông được bên ngoại đưa về nuôi nấng dạy dỗ tại thôn Vân Tập cũng cùng xã Đồng Đội.
Cậu ruột Nguyễn Bính là ông Bùi Trình Khiêm lãnh trách nhiệm nuôi nấng ông. Được biết ông Bùi Trình Khiêm là một nhà nho có tiếng trong vùng thời đó đã tham gia vào phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, ông Khiêm cũng là thầy giáo dậy ông Trần Huy Liệu. Nhờ  người cậu giỏi hán văn mà Nguyễn Bính có môi trường tiếp xúc sớm với chữ nghĩa, thi phú và nghệ thuật.


Khi Nguyễn Bính được mười ba tuổi đã làm kinh ngạc về tài thi phú của mình nhân vào dịp lễ hội Phủ Giầy (Nam Định) thường tổ chức vào tháng Ba Âm Lịch hằng năm, trong lễ hội năm này có tổ chức cuộc thi thơ. Năm đó ban tổ chức chọn đề thi là " Hãy tả cảnh chọi gà trong ngày lễ hội"  Đề tài vừa ra, ông lấy bút giấy viết liền, chỉ chưa đầy nửa thời gian của ban tổ chức ấn định Ban Giám Khảo đã thấy Nguyễn Bính đã lên nộp bài thi. Mọi người đều ngạc nhiên nhất là những vị trong Ban Giám Khảo. Bài nộp của Nguyễn Bính dài hơn ba trang giấy , kể ra như vậy là ông đã viết khá dài. Sau  khi Ban Giám Khảo xem xét và cân nhắc, đã quyết định trao giải thưởng hạng nhất cho bài thơ của nhà thơ Nguyễn Bính.
Liền ngay đó BGK đã dùng loa phóng thanh đọc bài thơ  được giải nhất ở giữa sân đình cho mọi người nghe. Nghe xong, tức thì hàng ngàn người đang tham dự lễ hội có mặt,  đều nhất loạt vỗ tay hân hoan chúc mừng nhà thơ thiên tài Nguyễn Bính, có những cặp thanh niên còn cao hứng công kêng Nguyễn Bính lên vai, làm chàng trai NB vừa mới lớn được nhìn từ trên cao hơn người xuống nhìn ngắm những cô gái đang đi dự lễ hội một cách hãnh diện và thoải mái, trái lại những cô gái xuân xanh mơn mởn đang ước tấm chồng nhìn lên anh thi sĩ đầy cao ngạo mà ước muốn được lấy chàng làm chồng . . .

Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến, xuân đi, hoa mận nở
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân
Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
Đôi tám xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?
Bài thơ "Gái Xuân" trên mà NB mô tả một nàng thôn nữ diễm kiều đang mơ mộng thật nhiều, cô đang mơ một tấm chồng, si tình một chàng trai nào đó có thể là thi nhân Nguyễn Bính chăng? Nên chàng hỏi "Đêm xuân cô ngủ có buồn không?" Từ ngày chàng được đám đông vỗ tay tán thưởng  sau cuộc thi ở Phủ Giầy năm ấy, NB lại càng cao hứng để sáng tác những vần thơ trữ tình làm nhiều người say mê, các cô thiếu nữ thì mê mẩn si tình như trong bài Chờ Nhau dưới đây:
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn dập miếng giầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng chung một ngõ vội vàng chi anh
Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình với nhau.
Ai làm cả gió đắt cau,
Mấy hôm sương muối cho trầu đổ non.
Trong câu ' em nghe họ nói mong manh, hình như họ biết chúng mình với nhau ' quả tình là thi vị và lãng mạn, không còn nề nếp gia phong cổ hủ trai gái thụ thụ bất thân như ông bà ta thường nói.  Tuy thế nhưng với bài Cô Hàng Xóm  mà NB mô tả rằng nhà chàng ở cạnh nhà nàng mà vì lễ giáo nên còn hơi e ngại.
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn.
Hai người sống giữa cô đơn,
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
Giá đừng có dậu mùng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.
Cho nên chàng chỉ dám nhẹ nhàng nằm mơ thôi:
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng...
Có con bướm trắng thường sang bên này.
Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi...
Chả bao giờ thấy nàng cười,
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên.
Cảnh mưa thì thật buồn, nhà thơ NB mô tả như sau:
Tầm tầm giời cứ đổ mưa,
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm.
Cô đơn buồn lại thêm buồn,
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?
Chàng gửi hồn cho bướm trắng để chịu tang khi biết nàng đã thành người thiên cổ. NB quả là một người si tình và lãng mạn, mặc dầu chàng chưa hề mặt mặt cầm tay nàng lấy một lần mà đã nghẹn ngào, đau sót và  nói rằng mình đã yêu nàng. Thật đúng là chàng vừa si tình lại hết sức lãng mạn.
Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Đêm qua nàng đã chết rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc... Quả tôi yêu nàng.
Kết luận một điều làm người đọc ngỡ ngàng sau  khi nàng chết, NB còn mơ tưởng rằng  nếu hồn trinh của Cô Hàng Xóm còn ở trần gian thì hãy nhập vào bướm trắng để qua với chàng thì sung sướng biết bao!.
Hồn trinh còn ở trần gian?
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này!
Rồi,  một  câu chuyện thú vị và si tình khác của Nguyễn Bính nữa mà nhiều người còn nhắc tới:  Số là năm ấy ông vừa tròn mười bốn tuổi Nguyễn Bính đi dự hội Phủ Giầy một lễ hội mà ông rất mê từ thuở nhỏ. Hôm đó ông đang ngồi xem hát hầu đồng bóng, khi thoáng thấy một cô gái trạc tuổi ông  đi ngang qua. Cô bé người cao ráo mặc áo cánh sen thắt lưng hoa lý trông rất xinh. Cô ấy đi cùng với một người đàn bà  có lẽ là mẹ nàng.  Vẻ đẹp sắc nước nghiêng thành, lạ lùng như nàng vừa thoát ra từ bức tranh Tố Nữ treo ở tường trong phòng khách của một vị quan mà ông đã đưọc xem khi đi thăm ông quan ấy với người cậu, vội vàng ông chạy theo cốt nhìn cho bằng được khuôn mặt cô nàng, rồi ông ngơ ngẩn như người mất hồn khi diện kiến. Cả ngày hôm ấy, ông cứ đi theo hai mẹ con nàng, ông theo cả vào chùa trong để lạy cùng lạy, khấn cùng khấn với hai mẹ con nàng đến nỗi ông quên cả thời gian mãi cho đến chiều.
Gió chiều cầu nguyện đâu đây,
Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu.
Sư già quét lá sau chùa,
Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông.
Si tình đến thế nên ít có người sánh kip. Ngoài việc lãng mạn si tình, NB còn được dân gian coi như một vị thần dùng thơ để bói toán nên người cùng thời đặt cho ông danh hiệu là 'chú bé thần đồng ', nhiều lời đồn đãi thêu dệt khiến nảy sinh ra nhiều chuyện bất ngờ . Lúc đầu người ta nhờ NB gà thơ cho những cuộc thi có hát đối đáp vì ông có tài đối ứng tức thì, nên thường bên nào có ông giúp thì đều thắng cuộc thi, làm đối phương tức giận. Tuy nhiên cũng nhờ tài đó mà ông được dân chúng ngưỡng mộ, thời đó dân trí còn thấp kém nên đã có người tôn ông lên đến tột đỉnh vinh quang, có người ngờ rằng ông là người của "cõi trên" hiện xuống vì do sự sùng kính quá đáng  mà thành mê tín, tin rằng thơ NB là thơ Tiên, được giáng nhập vào cậu bé thần đồng chứ chẳng phải là thơ của người bình thường sáng tác. Thậm chí đến nỗi  người muốn dựng vợ gả chồng cho  con cái, hay những cặp trai gái gặp đường tình duyên trắc trở, hoặc làm ăn xui xẻo v.v. đều đến nhờ "Câu" cho thơ "Tiên"!  "Cậu" tuỳ theo hoàn cảnh của thân chủ lại cho thơ "Tiên".

Một lần kia, gia đình nông dân nghèo có một cô gái vừa tuổi cập kê, một thanh niên con nhà giầu ở làng kế bên  đến hỏi xin cưới làm vợ. Nhưng phiền một nỗi nàng đã có một người yêu khác trong làng, người này tuy nghèo nhưng như cô nhưng cách ăn nết ở cũng khá. Gia đình cô gái phân vân không biết quyết định ra sao cho phải nên đã tìm đến "Cậu"  Cậu" liền lấy bút giấy viết ra "dòng thơ phán bảo" như sau:
"Của dẫu nhiều nhưng vẫn chẳng nên
Phù vân, giả dối chẳng lâu bền
Tình em đâu phải trao thiên hạ
Dành để trai làng mới đẹp duyên"
Thế là gia đình người thiếu nữ đành nghe lời thơ Tiên của Cậu  gả cô cho trai làng, mà từ chối gả cho chàng thanh niên làng bên giầu có. Một  chuyện thật độc đáo là có một anh chàng hành nghề đạo chích nghe nhà Thơ NB có thơ Tiên linh hiển lắm nên cũng tìm đến xin thơ Tiên và được Nguyễn Bính "giáng" cho mấy câu thơ, đọc xong thơ Tiên thì anh đạo chích bỏ luôn nghề ăn trộm. Trở lại nàng Tố Nữ mà NB gặp ngày trẩy hội  Phủ Giầy, hết ngày lễ hội thì chàng còn tò tò theo nàng nhiều ngày nữa, chàng luôn luôn đi theo bên  nàng cho đến ngày thứ tư, chàng lén dúi được vào tay cô Tố Nữ một mảnh giấy có mấy câu thơ sau:
"Em ở cõi trần hay cõi tiên?
Phủ đền nhang khói nức hương em
Xin đi chầm chậm cho theo với
Lộc Thánh dâng người một trái tim".
Cô gái Tố Nữ nhanh nhẹn cầm lấy mảnh giấy nhưng nàng thẹn thùng ngó lơ đi nơi khác. Tuy vậy chỉ cần như thế là chàng đã mãn nguyện sung sướng tràn ngập trong lòng rồi. Như thế phải chăng Nguyễn Bính đã là một thi sĩ thật lãng mạn và si tình. Cuộc tình vẫn chưa chấm dứt, nàng sau đó đã theo mẹ về quê và chàng tìm cách đi theo cho đến tận nơi  nàng ở. Tuy nhiên có lẽ mối tình đầu này kết quả chỉ đẩy đưa tới đó mà thôi bởi vì chỉ chừng ba tháng sau thì gia đình nàng  đột ngột bán nhà chuyển đi nơi khác, thế là người tiên Tố Nữ của chàng đã biến mất, nhưng hình ảnh nàng Tố Nữ  trẩy hội Phủ Giầy đầu chít khăn nhung mỏ qụa, có lúc nàng thả tóc đuôi gà thật xinh vẫn luôn ám ảnh trong tâm hồn chàng thi nhân Nguyễn Bính, một bóng hình khó lạt phai.

Nguyễn Cao Can

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

TRẦN TUẤN KIỆT * Nhận định về thơ Tuyết Linh với gần nửa thế kỷ làm thơ


Giới văn nghệ sĩ ở nước ta vì hoàn cảnh lịch sử luôn biến động và thay đổi vô cùng lớn lao nên có những đời sống văn hóa đầy nhiễu loạn và ảnh hưởng lớn đến đời sống cá nhân của nhiều người. Có những công việc vừa thực hiện đã thay đổi nhất là ở thế hệ 20 thanh niên dở dang học hành hay công việc để vát súng xung trận chống giặc Bắc. Trong hệ lụy chiến tranh đó cái sống thác loạn và cái chết bất tử luôn gây tác động tinh thần cho giới trẻ miền Nam tự do rất mạnh mẽ.

Văn học nghệ thuật của giới trí thức trẻ miền Nam sau thời nhà Ngô, chịu ảnh hưởng mạnh từ văn hóa Âu Mỹ, tinh thần hiện sinh lên thật cao cho nên mới có hiện tượng yêu cuồng sống vội! Còn ở miền Bắc văn hóa chịu xiềng xích nô lệ hóa con người theo chủ nghĩa Karl Marx Lenine mãi tận ngày nay. Cuộc chiến tranh Nam Bắc là nội chiến mặc dầu đều chịu sự cương tỏa của các nước lớn từ Liên Xô và trong Nam chiến tranh chống Cộng từ Mỹ. Người quốc gia nghèo nàn và lạc hậu luôn như cây sậy yếu mềm ngã theo chiều gió loạn. Trong hoàn cảnh đó Tuyết Linh ra đời trong một gia đình giàu có đầy quyền lực. Cô bắt đầu làm thơ lúc 13,14 của tuổi học trò, và đăng thơ trên các báo ở Sài gòn và trên các tuyển tập như Hoa Mười Phương, cùng nổi tiếng trong giới nữ sinh, phụ nữ đương thời như Minh Đức Hoài Trinh, Ngọc Hân, Thu Nhi, Phương Đài, Tuệ Mai ở nhóm Tao Đàn Bạch Nga, như Nhã Ca ở Ngàn Khơi của Trần Dạ Từ Nguyễn Hữu Đông, như Trùng Dương và các nhà văn nữ giới khác. Nhưng tiếng thơ của Tuyết Linh có một điểm khác lạ, có cái gì tự tin và gần với các nhà văn nhà thơ của Âu Mỹ. Ở lứa tuổi đó Tuyết Linh đã viết những câu thơ như sau:

Chậm chậm chiều ơi về chi vội vã
Ta cô đơn chiều ghé xuống đây chơi
Lời gió dịu e làm ta sa ngã
Chiều ơi chiều chậm chậm chiều ơi

Qua gần nửa thế kỷ tôi vẫn còn nhớ những vần thơ Tuyết Linh mà tôi sưu tầm được để đưa vào cuốn Thi Ca Việt Nam Hiện Đại. Điểm lạ và đặc biệt khác với phụ nữ đương thời thường tự xưng là em một cách yếu mềm thì Tuyết Linh đã xưng thẳng trong thơ là Ta, Ta cô đơn như sự cô đơn lớn lao của Huy Cận xưa kia hay “Ta không còn cô độc” của một Thanh Tầm Tuyền nhà thơ hiện sinh trong sáng tạo.

Ta cô đơn chiều ghé xuống đây chơi
Lời gió dịu e làm Ta sa ngã
Chiều ơi chiều chậm chậm chiều ơi!

Lời thơ đầy sinh khí và độc lập dù nó ở trong lớp tuổi học trò, thơ Tuyết Linh đăng báo thời đó thường được trả nhuận bút 150 đồng, trong khi đó TTK chỉ được trả mỗi bài thơ là 100 đồng. Được trả như thế nên Viên Linh đã nói đùa với Tuyết Linh, cô là cao thủ rồi đó. Có nhiều người thời đó say mê vẻ đẹp duyên dáng của Tuyết Linh cũng như những vần thơ đẹp huyền ảo của cô. Người theo đuổi say mê nhất có lẽ là Bùi Giáng, đến nay gần nửa thế kỷ thư và thơ của Bùi Giáng tặng kể cả các trang thư viết tay của ông, Tuyết Linh vẫn còn giữ và coi như vật quí nhất trong đời mình. Vậy đó, bỗng nhiên con chim Hồng, lời hót con Họa mi biến mất! Giới văn nghệ đồn đại Tuyết Linh có lẽ đã lấy phó Đô Đốc Hải Quân là bạn thơ của nàng. Nhưng ngờ đâu nàng lại lên xe hoa về nhà chồng, với người chồng có địa vị trong Toà Án Mặt Trận lúc bấy giờ.

Cô bắt đầu cuộc sống của một mệnh phụ phu nhân trong cảnh giàu sang lên xe xuống ngựa. Từ đó, cô buông bút và cách biệt hẳn với bè bạn văn chương, xa rời chữ nghĩa vì bị câu thúc kềm chế của gia đình chồng. Cô ép mình yên phận và uốn mình như rong rêu lượn theo dòng nước. Cho đến khi lịch sử đổi thay năm 75, chồng Tuyết Linh sang Mỹ theo diện HO, Tuyết Linh theo chồng qua Mỹ, đi học trở lại và làm việc. Một cuộc sống khá tự do và hình bóng xinh đẹp của người vợ như là nỗi ám ảnh của người chồng luôn sợ sự giao du thân mật với kẻ khác. Tuyết Linh trong thư gởi TTK đã nói nhiều, chồng nàng luôn ghen tuông bóng gió nhưng cả hai vẫn sống chung, lo dựng vợ gã chồng cho các con xong rồi họ mới chia tay một cách êm thắm. Tuyết Linh về ở với vợ chồng cô con gái út cho đến nay. Các con cháu đều thành đạt, đời sống Tuyết Linh khá giả và thường thì bà lấy du lịch khắp nơi làm nguồn vui sống. Ở cái tuổi gần “Thất thập cổ lai hy” Tuyết Linh bắt đầu làm thơ nhiều. Bây giờ thì tiếng thơ của con họa mi ngày nào đã ngân cao vút, hồn thơ bao la, tinh thần sảng khoái mở rộng với vũ trụ vạn vật, Tuyết Linh đã suy niệm cuộc đời qua cái nhìn về bản thân mình như sau:

Tìm tôi từ thấp lên cao
Từ trên xuống dưới chỗ nào là tôi?
Bao la là đất là trời
Phận tôi cát bụi ngậm ngùi xưa sau!

Cái nhìn chân tướng sự vật, chân tướng cuộc đời mình thật bi đát, phải không?
Tuy nhiên chỉ có thể là cái nhìn trong một thoáng về hình hài cát bụi, tinh thần của chủ nghĩa hư vô siêu thực Âu Châu, bà còn viết những vần thơ tuyệt vời kỳ ảo khác. Ta hãy đọc bà trong bài Ru Anh:

Ngủ đi anh, ngủ đi anh
Ngoài kia nắng dội vàng hanh nụ tình
Em còn hạt lệ long lanh
Ru anh có đủ những bình minh sau?

….

Rồi tiếng ru huyền diệu có những hạt lệ long lanh đó kéo dài cho đến câu thơ cuối:

Đêm tàn còn những bơ vơ
Lòng em chợt lạ đôi bờ nhớ quên!


Tiếng thơ như vọng vào thời gian dội lại trong cõi viễn mơ trầm tư của cuộc đời mình, ở đó đôi bờ âm hay dương, nỗi nhớ hay quên, thực và mơ, mơ và thực như cánh bướm của Trang Chu trong mơ hóa bướm bay đi ngao du giữa cuộc đời này. Sự hư ảo huyền diệu chen lấn hư hư thực thực khiến cho người đọc thơ Tuyết Linh cũng rơi vào một trạng thái u yêu huyền ảo đến vô cùng! Đó là lúc mà cái trực nghiệm lại bản thân mình giữa sinh tử phù du đã đến gần với triết lý của Trang Chu, tư tưởng của Tuyết Linh không dừng ở tư duy vô thường của Phật hay Hư Vô của triết lý Âu Châu hiện đại, càng viết càng đưa tiếng thơ ra đời càng đi sâu vào một thế giới tâm linh hư ảo mà những tâm hồn chân thực khó mà lãnh hội được.

Bây giờ Bùi Giáng đã đi xa. Nhớ ngày nào Bùi Giáng đem các bài thơ của Tuyết Linh đến cho TTK đọc và từ đó TTK đã say mê thơ của bà, vừa được chiêm ngưỡng cái hình bóng người đẹp qua bức ảnh chụp chân dung, mà BG đã đặt cho bức ảnh cái tên là Marylin Monroe. Đó là hình ảnh vô cùng huyền ảo của Tuyết Linh.

Thơ Tuyết Linh được đưa vào THI CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI khi mà nàng thơ áo tím đã đi lấy chồng được hai năm. Bốn mươi bảy năm sau, Tuyết Linh tìm được địa chỉ và gởi thêm những giòng thơ mới lạ, tiếng thơ độc lập và kì bí cho TTK. TTK đã gom lại làm một tập bản thảo, và nhắn nhủ Tuyết Linh không nên để cho độc giả, như TTK, “tiếc chết” vì sự tuyệt tích của nó, và không biết có phải lời đề nghị của TTK có được chút ảnh hưởng gì không, mà bây giờ, đứa con tinh thần “Nơi Đâu Nghìn Trùng” đang chuẩn bị góp thêm sắc hương vào vườn hoa văn học VN.

Ngoài ra bà đã đăng thơ ở nhiều báo như Khởi Hành và Thư Quán Bản Thảo gần như là một cuộc phục sinh về thơ vậy. Tập thơ mới soạn sắp xuất bản bà gởi cho TTK khá nhiều bài hay lạ, tinh thần khoái hoạt, đôi khi như hí lộng vào tư tưởng triết học cổ kim Đông Tây. Con người đó đã trầm tư nhiều qua hằng thế kỷ nên tiếng thơ đó cũng vậy, bà bắt đầu lập ngôn bằng thơ của mình, đầu tiên là các nhà văn nghệ trước 75 ai cũng vui lòng đón nhận cái tinh tế của một tâm hồn thật lớn lao và không kém hoa mộng đó. Thơ của Tuyết Linh chứa đựng tất cả nét suy tư hoài niệm của hằng thế kỷ suy niệm của các triết nhân nghệ sĩ trong thơ đầy lãng mạn, tinh anh trong thi ngữ gieo vần cho ta thỉnh thoảng gặp được những kỳ tứ đặc sắc vô song của một thi tài nữ ViệtNam trong thế kỷ này vậy.

Điều đáng trân trọng là bà không hề chịu lôi cuốn vào các giòng thơ mới xuất hiện gần đây ở Âu Mỹ, thơ bà gần với tư tưởng siêu hình của Đông Phương huyền bí hơn, trầm tư của giòng thi ca tư tưởng hiện đại hơn, những nhận thức về cuộc đời, suy tư về kiếp người, ý tưởng về tình yêu hạnh phúc, về hư vô và vĩnh cửu đôi lúc lại tự đùa cợt ví von với cỏ cây sự vật, với cái có cái không, cái cô đơn thao thiết về cuộc tình sầu qua sự biến đổi của lòng người, của năm tháng và màu sắc của vạn hữu.

Dường như Tuyết Linh cũng như Bùi Giáng đã để trái tim say yêu, say đạo lý và say thơ vào lòng bàn tay của vạn vật. Bà không thán oán điêu linh trong các chuyện bạc tình bạc hạnh. Kiếp người như một loài hoa đẹp sinh ra là để chờ đón những mưa gió phũ phàng những lụy tàn với thời gian để về cùng núi xa nơi vu sơn vu giáp nào của nàng tiên thơ của đời.

“Nơi Đâu Nghìn Trùng” là thi phẩm sau này của Tuyết Linh mà nội dung hình ảnh tươi đẹp với những nỗi đời xót xa cay đắng chỉ là cái chuyện thừa, tự nhiên của lòng người và cuộc đời mà thôi, mà ở trong đó có biết bao ân tình, biết bao câu chuyện của một người từng trải đã chịu nhiều hoang phế như bức thành cổ của đời.

Lời thơ tự nhiên ý trác việt trong thơ hàm ngụ những hình ảnh Thiên Thu trong từng hạt bụi cuộc đời.
Những hệ lụy và những nỗi đau vô cùng âm thầm đã chôn sâu tự đáy lòng rồi cũng được khơi lên hiện hữu với nhà thơ. Ta cũng có thể gọi đây là loại thi ca tư tưởng của Tuyết Linh mặc dầu nó luôn đậm chất lãng mạn muôn đời của khách tài hoa, nó luôn hiện hữu sống động của khách đa tài bạc mệnh giữa muôn vàn khát vọng.

Tuyết Linh vẫn còn thừa thời gian để sống và làm thơ như để un đúc thêm rộng thêm sâu về cuộc lập ngôn của mình. Tuyết Linh chuẩn bị cho ra thi phẩm của mình sau nửa thế kỷ ngưng hẳn mạch tiết của thơ, giòng thơ nói chung là điệu thơ tình cảm, gợi người ta nhớ đến những lá thư tình những ẩn tình ít nhiều trắc ẩn với người yêu với người cùng song hành với mình qua những cuộc tình đầm ấm nồng nàn cho đến lúc chia tay những cơn đau ngầm, những ngậm ngùi sâu thẳm chung với định mệnh của đời mình. Tiếng thơ đó được tập hợp trong một thi phẩm mới vừa đơn độc vừa u hoài của khách thơ đa tình sầu mộng đó là thi phẩm “Nơi Đâu Nghìn Trùng”. Những người yêu thơ chắc hẳn sẽ phải trân trọng đến giá trị đặc biệt của hồn thơ riêng, một cõi buồn u uẩn của bà, nơi đó tâm tư dường như buông lỏng, thả trôi đi theo áng mây trời, theo thời gian, có thể ta thấy gần với giòng sông vĩnh biệt thuở nào. Tuyết Linh với vốn thơ sung túc tràn trề của mình hầu như bà đã thừa ngôn ngữ để cho tiếng lòng mình bay bổng lên muôn trùng cho đến cõi bờ ngàn xưa mà bà nhắc đến hai chữ xuân thu của đời chiến quốc. Nét hào hoa đậm nhiều hệ lụy của tình trường càng cho người đọc tác phẩm của bà cùng chia sẻ định mệnh với bà tạo ra dư âm trầm buồn sầu mộng như thơ bà, cũng thấy day dứt cõi lòng qua bài thơ “Tôi và Bóng thật ưu tư, thật khắc khoải và cô đơn vô cùng “Xót xa cũng chút hình hài/ Theo cơn gió cuốn lạc loài tử sinh”…hay:

Hai ta chung một lời thề
Đời tôi phận bóng đi về có nhau
Như con nước chảy chân cầu
Loanh quanh lẩn quẩn với màu thời gian…


Những nhà thơ nữ tài hoa cùng chung thế kỷ với bà có lẽ chỉ viết với tinh thần thi ca sâu thẳm đến thế mà thôi. Còn nhiều vần thơ trác tuyệt trích ra đây khiến bài dài lắm để độc giả tự đọc có lẽ hay hơn. Con đường lớn của thi sĩ Việt nhất là những nhà thơ nữ từ Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… đã được nối thêm những bước đi dài của những nhà thơ mới như Tuyết Linh, Nhã Ca , Minh Đức Hoài Trinh, Tuệ Mai Nguyễn Thị Vinh và một nhà thơ tự miền Bắc vào như Ý Nhi tạo ra được những giòng thơ đẹp trong lịch sử thi ca hiện đại. Một nửa thế kỷ trong đời thơ Tuyết Linh đã trôi qua quá nhiều tác động lịch sử, biến đổi lịch sử của đời người nhưng cuộc đời nhà thơ cũng có lúc thăng trầm, và biến động. Lịch sử ấy dường như không chi phối, không ảnh hưởng gì đến giòng thơ An nhiên Như nhiên và Tự Tại ấy!

Với một tinh thần vững vàng và triết lý nhân sinh vươn lên khỏi cái sinh lão bệnh tử tầm thường của cuộc đời, thơ Tuyết Linh vẫn tạo ra một sắc diện thanh kỳ rất mới tinh anh ở từng tứ thơ huyền nhiệm ở nhiều câu hỏi lớn đặt ra trong đời và đôi khi người tự trả lời ỡm ờ với cái vẻ tinh nghịch là lạ của cá tính mình.

Những tư tưởng mênh mông về vũ trụ thiên nhiên hiện ra trong bầu không khí u huyền của các giòng thơ lục bát như một người thả buồm trên dòng thời gian miên viễn mà đôi khi nó rất phiếm hoạt vây quanh mình.

Chúng ta trân trọng chào đón nhà thơ trở lại với nguồn sống tâm linh đầy chất trữ tình mà cũng đầy lẽ dung dị nhân ái đối với đời.



TRẦN  TUẤN  KIỆT


Nơi Ðâu Nghìn Trùng

Tuyển tập thi ca của nữ sĩ Tuyết Linh 

do Ðất Mới xuất bản năm 2015.
Sách dày 180 trang do Tâm Hữu trình bày. 

 Bìa và phụ bản màu của Đinh Cương, 
Trịnh Cung. Trần Tuấn Kiệt đề tựa.
Bạn đọc yêu thơ muốn có tác phẩm này xin vui lòng 
liên lạc với tác gỉa qua điện thư :

tuyetlinh39@yahoo.com 




Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

HOÀNG LONG HẢI * Hát bội, hồn thiên cổ


Mẹ già cuốc đất trồng tiêu

Con theo hát bội mẹ liều con hư

(Ca dao)

Mẹ tôi là người mê coi hát.
Điều nầy có lẽ bắt nguồn từ tâm tính mẹ tôi. Mẹ tôi ưa ca, dĩ nhiên, ở thế hệ bà, mẹ tôi chỉ biết ca Huế.

Tôi còn nhớ khi tôi còn thơ ấu, nhiều đêm, nằm bên mẹ dưới giàn mướp ở cái vườn bên hông nhà, đôi khi mẹ tôi vẫn thường ca bài Nam Bình “Nước non ngàn dặm ra đi…” là bài ca nói về việc Huyền Trân Công Chúa lấy vua Chàm để đổi hai châu Ô, Rí hoặc bài “Kéo neo tầu chạy…” là bài ca do vua Thành Thái soạn ra khi nhà vua bị Pháp đày qua đảo Reunion bên Châu Phi.

Ngày xưa, di chuyển đường xa người ta thường dùng tầu thủy. Từ bến Sáu Kho ở Hải Phòng đi về Nam thì “Tầu Cờ-Lốt-Sáp trước khi nhổ neo, theo lệ thường, rít lên ba hồi còi. Còi rúc thật dài, hùng dũng bao nhiêu thì ai oán bấy nhiêu!” Có lẽ nhiều cô cậu học sinh hồi trước, nay các cô cậu ấy cũng đã sáu bảy chục tuổi, còn nhớ bài tập đọc nầy, trích trong cuốn tiểu thuyết “Tôi Là Mẹ” của Lê Văn Trương.
Tầu đưa vua Thành Thái đi đày bên châu Phi có lẽ cũng vậy! Ở bến Vũng Tầu, sau khi còi rúc ba hồi còi, neo được kéo lên để tầu quay mũi ra khơi. Tiếng giây neo kêu lẻng xẻng trên sàn tầu có làm cho lòng nhà vua đứt đoạn từng cơn? “Nước mất nhà tan!” Nay trên con đường lưu đày nơi chân trời góc bể, việc lấy lại nước chỉ còn là điều xa xôi tuyệt vọng, và cuộc đời lưu vong của một vị vua mất ngôi, cũng mịt mù như gió thảm mưa sầu. Còn có gì đau đớn hơn?!

Hồi ấy, tôi còn thơ ấu, chưa biết gì về nỗi đớn đau của một nhà vua yêu nước bị lưu đầy nơi xứ người. Ý niệm đó, có lẽ tôi chỉ thu nhận được sau khi học lịch sử về việc thực dân Pháp xâm lăng nước ta, và nhớ lại những lời trong bài Nam bình do mẹ tôi ca, mà thấm thía thía hơn về nỗi u hoài của mọi người, của dân tộc và của nhà vua trong thân phận một nước nô lệ.
Có lẽ cảm nhận sâu săc nhất của tôi hồi ấy, qua mấy bài hát mẹ tôi ca, chính là sự cách biệt vể giàu nghèo, về sự phân ly của những người yêu nhau nhưng không lấy được nhau:
Thân em như cái sập vàng
Thân anh như chiếc chiếu bên đàng bỏ đi!
Chiếc chiếu bên đàng, như mẹ tôi ca, là chiếc chiếu rách nát lắm, chẳng ai thèm dùng tới nữa, dù là kẻ ăn mày. Tuy nhiên, trong cảnh nghèo khó đến cùng cực, người con trai vẫn còn một mối hy vọng:
Lạy trời cho nổi gió lên,
Cho manh chiếu rách nằm trên sập vàng!

Gió nào mà nổi lên?! Gió nào có thể thổi cho chiếc chiếu rách nằm trên sập vàng? Có lẽ việc người ta trúng số độc đắc còn dễ hơn có cơn gió thổi cho chiếc chiếu bay lên… Lời ca của mẹ tôi về cảnh đau thương ấy làm cho tôi xúc động dài lâu trong cuộc đời thơ bé!
Khi mẹ tôi quá 50 tuổi, các anh chị em chúng tôi đã khôn lớn, có công ăn việc làm, có gia đình, chỉ còn mỗi một “Hùng móm”  đang học đại học thì anh chị em chúng tôi khuyên mẹ nên nghỉ việc, nên đóng cửa “Nhà hộ sinh” do mẹ tôi trông coi. Mẹ tôi cũng nghĩ mẹ tôi đã lớn tuổi, mắt đã kém, tay đã run nên thôi nghề để dưỡng tuổi già.
Ngoài việc ăn mặc, thú giải trí của mẹ là điều anh chị em chúng tôi cũng chăm sóc tới. Biết mẹ thích coi hát, khi những gánh cải lương lớn từ miền Nam ra lưu diễn, như gánh Hương Mùa Thu, Kim Chưởng, Thanh Minh Thanh Nga…, anh chị tôi đêm nào cũng mua vé cho mẹ đi xem. Biết mẹ mắt kém, anh chị tôi mua vé hạng nhứt cho mẹ.

Gánh hát bắt đầu chương trình lúc 9 giờ tối, 12 giờ đêm mới vãn, nhưng mới chiều hôm, chị giúp việc đã được anh chị tôi dặn trước, lo cơm nước cho gia đình ăn sớm để mẹ đi xem cải lương. Đứa cháu ngoại lớn nhứt của mẹ tôi, lúc đó mới mười tuổi, đêm nào cũng được đi xem với bà ngoại. Thằng bé trai đời nay mà mê cải lương là quê lắm, nhưng thằng bé mê xem hát không kém gì bà ngoại. Dù bị người trong gia đình chọc quê, khi trời mới tối, cơm nước xong, cậu ta đã thay áo quần sạch sẽ để được đi xem cải lương với bà. Mẹ tôi lại là người rất cưng cháu ngoại, nên bao giờ nó cũng được mẹ tôi bênh vực, khi nó bị ai cưòi chê.

Thế rồi có một gánh hát bội, gốc gác từ Quảng Nam, đến hát thường trực ở phường tôi.
Phường tôi phần đông là dân lao động, trình độ xem hát chưa được “văn minh” như dân ở phố. – dân phố thường chỉ thích xem cải lương -, nên số khán giả xem hát bội cũng không đến nỗi tệ, dù dân số trong phường không đông.
Anh Xạ Thử, theo cách gọi thông tục, chính là ông xã trưởng hay còn gọi là phường trưởng phường tôi, cho dẹp cái sân bóng chuyền bên hông trụ sở phường, cho lấy tôn bao cái sân bóng lại, dựng thêm một cái sân khấu lộ thiên để làm nơi trình diễn cho gánh hát bội.
Mỗi đêm, khi trời sập tối là tiếng trống đại của gánh hát đánh thì thùng, giục giã khách tới xem. Ở cửa gánh hát, mấy ngọn đèn tròn được thắp sáng lên. Chen lẫn với tiếng trống là tiếng hát được phát qua loa những bài âm nhạc cải cách đã cũ, của những dĩa hát 78 vòng sản xuất khá lâu, hồi đầu thập niên 1950 như bài Kiếp Hoa, Giòng Sông Hát hoăc các bản ca cải lương của Út Trà Ôn. Những dĩa hát tuổi cùng thời, dĩa đã mòn, đôi khi kim cũng đã lụt nên tiếng ca nghe không được rõ. Dù vậy, những âm thanh đó cũng làm náo nức người dân lao động phường tôi. Họ hối hả đi xem hát, xem sớm, về nghỉ sớm để mai lại bắt đầu một ngày lao động vất vả khác.

Thời gian kéo dài suốt trong những tháng hè, gánh hát bội trở thành một niềm vui, một nơi giải trí cho dân trong phường, mặc dù khán giả không đông, giá vé không cao, cũng đủ nuôi sống đào kép trong khi mùa đông giá rét chưa tới.
Dĩ nhiên, mẹ tôi là một khán giả trung thành của gánh hát nầy.
Các anh chị tôi cũng đã “văn minh”, cải lương còn chưa muốn xem, chỉ thích ciné và kịch nói, nên cũng không thích gánh hát bội. Tuy nhiên, anh chị em chúng tôi biết đó là nguồi vui của mẹ, nên không ai lên tiếng bình phẩm gì, sợ làm mẹ mất vui.
Tôi cũng vậy, tôi cũng không thích hát bội, nhưng tôi biết hát bội đã từng có một vai trò lớn trong đời sống văn hóa dân tộc. Văn hóa nầy cũng đã mai một cùng thời gian, nhưng giá trị văn hóa của nó vẫn còn đấy, trong văn học sử. Giá trị đó là gì, nếu không phải là nó cổ vũ, vận động, thậm chí có khi dạy dỗ cho người Việt biết giữ gìn Trung Hiếu Tiết Nghĩa, được khai triển không ít trong các vỡ tuồng hát cũ. Đọc hay xem một vỡ hát bội, tôi có thể biết đôi chút về những tấm gương Hiếu Trung của đàn ông, con trai, hay Tiết Hạnh của người phụ nữ, nhưng bởi vì hát bội không còn phổ biến rộng rãi như xưa nên tôi hiểu rất mơ hồ về cách hóa trang và những hành động có tính biểu tượng trong các vỡ tuồng cũ.
Ví dụ, muốn mô tả một người đang cưởi ngựa, biểu tượng của nó là một người đang cầm một cây roi có tua. Người đóng vai cưởi ngựa co lên một chân, lấy cây roi vỗ vào cái chân đang co, là tượng trưng cho việc lên ngựa. Cho ngựa phi nước kiệu là lấy roi đánh nhẹ vào cái chân ấy. Hoặc roi đánh mạnh, đánh nhanh vào cái chân co, là biểu tượng cho việc phi ngựa nước đại, phi nhanh như trốn chạy. Nếu phía sau có một người cũng có hành động như thế, có nghĩa là người ấy cho ngựa đang đuổi theo kẻ trốn chạy phía trước.
Tuy nhiên, việc vẽ mặt, vẽ râu trong hát bội là một vấn đề phức tạp, khó hiểu, nếu không hiểu được những nguyên tắc căn bản trong cách hóa trang.

Bấy giờ, tôi đang dạy môn Văn Chương Bình Dân lớp Đệ Tam cho học sinh. Một tác phẩm (với tôi là bài giảng) bàn kỹ về văn chương bình dân, ngoài ca dao, tục ngữ, chuyện cổ tích, chuyện thần thoại, không thể thiếu các loại ca hát, kể cả ca Huế, hò, chèo và hát bội. Tài liệu về hát bội không nhiều, ngoại trừ vài bài báo như của ông Thân Văn Nguyễn Văn Quý, đăng lẻ tẻ trong vài tạp chí không dịnh kỳ, còn những tác phẩm bàn về văn chương bình dân, không có tác phẩm nào nói qua về hát chèo và hát bội, là một hình thái nghệ thuật dân gian nước ta.
Đôi khi, ngồi ăn cơm với mẹ, nghe mẹ tôi nói tới đào kép, ông bầu gánh, tôi muốn được gặp ông bầu nhưng chưa có dịp.
Thế rồi tình cờ một lần…
Môt buổi trưa, ông bầu gánh đến thăm mẹ tôi. Tôi khẩn khoản mời ông dùng cơm trưa với tôi, và một cách thành thật, tôi hỏi những gì tôi muốn tìm hiểu về hát bội.

Trước hết, tôi muốn xác minh lại hai chữ hát bội hay hát bộ. Vừa hát vừa làm điệu bộ hơn là hát bội. Chữ bội đi với hát thì không hợp nghĩa gì hết. Ông bầu gánh cũng không sao giải thích cho tôi hiểu tại sao gọi là hát bội mà không là hát bộ, nhưng ông lại khăng khăng cho rằng chữ bộ không thể biến thành bội được. Gia đình ông là một gia đình truyền thống hát bội. Nội tổ ông từng là học trò của ông Đào Tấn (1). Thân phụ ông cũng là một kép hát trước khi thành ông bầu. Chính ông cũng là người từng được gia nghiêm truyền nghề lại cho.
Ông khăng khăng cải với tôi rằng người theo gánh hát không thể là người có đời sống tình cảm lăng nhăng để người đời cho rằng “Con theo hát bội mẹ liều con hư.” Tuy nhiên, ông cũng đồng ý với tôi, việc coi khinh nghề hát bội là rất phổ biến trong cộng đồng người Việt, bởi vì trong hát bội, thiếu đào kép nên nhiều khi cha con, mẹ con phải đóng vai vợ chồng, một việc, – như ông bầu nói với tôi -, dù đau lòng, người hát bội cũng phải làm và cho rằng đó là một việc thương luân bại lý. Phải chi có những gánh hát lớn, đào kép đông thì việc ấy có thể tránh được. Đào kép cũng chịu ảnh hưởng tuồng hát, cũng biết Trung Hiếu Tiết Nghĩa nên đào kép  cũng giữ gìn đạo lý, không muốn làm bậy, làm sai. Tuy nhiên, chính họ cũng thường gánh chịu những nỗi bất công trong xã hội. Họ bị gọi là phường tuồng, con hát. Đào kép bị coi thường. Các cô đào đẹp và hát hay, vì tài sắc của mình, đôi khi bị tạo hóa ghét ghen, buộc phải gá nghĩa với các ông quan, những người giàu có. Chuyện bất công xảy ra, nhiều khi tại hóa công, tại sắc tài chi lắm để chịu số kiếp hồng nhan đa truân, bạc mệnh.

Nói tới lẽ huyền vi của tạo hóa, tôi không phải là người vô thần nên tôi không cải lý với ông bầu được.
Tuy nhiên, khi bàn tới việc hóa trang, là điều tôi lâu nay thường ao ước được biết thì phải nhận rằng hát bội có những quan sát và tạo hình hết sức biểu tượng, người xem khó phản biện được.
Ví dụ về việc vẽ mặt. Mặt mầu đỏ son là người anh hùng, hiếu trung tiết liệt.  Trong triều đình, những tên gian thần dua nịnh thì mặt được vẽ mầu trắng mốc. Những người mặt mốc thì không tốt bao giờ. “Trông lên mặt sắt đen sì” thì chính là mặt Từ Hải, bộc trực, nóng nảy, ngay thẳng, chân thực. Mặt mầu xanh là kẻ yêu ma, quỉ quyệt.
Mắt có tròng xéo là con nhà tướng. Mắt tròng đứng là võ tướng. Mặt tướng cướp Phong Lai phải vẽ nhiều đường rằn ri,
Mặt huệ nhãn là mặt có mắt ở trán, tức là người nhìn xa thấy rộng. Lông mày mũi mác là khách trượng phu. Mày đoản là kẻ gian xảo. Mày mầu đỏ như lửa là người nóng tính như Trương Phi. Râu 3 chòm, 5 chòm là người đôn hậu, trầm tỉnh. Râu đen xoắn là người dữ dằn. nóng nảy. Râu đen đỏ là người có tính khôi hài. Râu chuột là người nói năng tía lia, bọp chộp, chưa nghĩ đã nói. Râu đen cũng là râu kẻ nịnh thần. Râu bạc là tướng anh hùng. Râu đỏ là tướng phản phúc.
Đó là những điều tôi học được tại bữa ăn trưa với ông bầu gánh hát bội.
Thế rồi mùa mưa tới!
Gánh hát bội hát lộ thiên, chịu cảnh mưa gió thì đủ ăn làm sao được!?

Khi trời đổ cơn giông. Nếu mưa trước hay sau khi hát hơn nửa tuồng, đêm hát coi như xong, ông bầu khỏi phải trả vé lại cho khán giả. Nhưng nếu cơn mưa đổ tới khi hát được vài màn, phải vãn tuồng thì gánh hát coi như lỗ nặng. Vé hát được dành lại cho bữa sau.
Nhưng khi mùa mưa phùn gió bấc tới rồi, trời đất một mầu đen mù mịt, mưa phùn lất phất suốt ngày nầy qua ngày khác, mười đêm chưa hát được một. Trong cái giá rét của mùa đông giá, khán giả không thể trùm chăn ngồi giữa trời mà xem hát được. Đào kép cũng không hát nỗi trong cơn rét run lập cập. Tiếng trống đại của đoàn hát nghe thưa thớt dần, những ngọn đèn vàng leo lét ở cổng cũng mờ mịt trong màn mưa lạnh giá. Gánh hát càng ngày càng xơ xác, rầu rỉ và đào kép chịu cơn đói triền miên từ ngày nầy qua ngày nọ.
Mẹ tôi vốn là người từ tâm. Mặc dù không còn xem hát mỗi đêm, nhưng vì chỗ xem lâu trở thành quen, biết ông bầu và đào kép, trong những ngày mưa gió đói lạnh ấy, mẹ tôi thỉnh thoảng đến thăm họ.
Anh chị em chúng tôi, từ ngày trở nên khá giả, ít khi mặc áo quần cũ. Những cái quần tây hơi mòn ở mông bị bỏ ra. Những cái áo trắng ngã mầu cháo lòng bị đào thải, v.v… Những thứ cũ ấy, chúng tôi treo trong tủ, chờ khi có bà con hay người quen biết ở quê lên, cho họ đem về mặc. Chuyện ấy là thói quen thường xảy ra trong gia đình tôi từ bấy lâu nay.
Thế rồi những người bà con ở nhà quê chưa lên mà áo quần cũ ấy không còn. Một hôm anh tôi hỏi to:
– “Mấy đứa bây (tức là mấy con ở) có thấy cái áo trắng trong tủ nầy đâu không?”
Không đứa nào trả lời. Cũng chẳng ai hoài công đi tìm một cái áo cũ tự nhiên biến mất.
Và những cái áo cũ, quần cũ ấy cứ tự nhiên biến mất “một cách bí mật” như thế?”
Thế rồi lại một hôm thùng gạo vơi nhanh đi một chút.
Chị dâu tôi là người hết sức tinh tế. Sự thay đổi chút ít trong bếp núc khó qua mắt được chị. Nên thế rồi chị kêu ngay một con ở, một con ở hết sức “thân cận” của mẹ tôi, để “điều tra” (như chị khoe sau nầy).

Con ở “thân cận” với mẹ tôi là là một con nhỏ Tây lai. Có lẽ trong một trận càn nào đó hồi “chống Pháp”, mẹ nó bị một tên lính Pháp hiếp dâm, và cái oan nghiệt, chính là sự xuất hiện của nó, một con bé mắt xanh mũi lỏ, khá đẹp, nhưng lạc loài trong một làng quê, toàn bọn con nít da vàng mũi tẹt. Có thể nói rằng con bé bị kỳ thị. Nó trở thành một đề tài để bọn trẻ trêu chọc sự khác biệt của nó trong một đám trẻ da vàng chưa quen với với nếp sống văn minh để có lòng vị tha.
Do một sự tình cờ nào đó, người mẹ bất hạnh của con bé biết mẹ tôi, và từ dưới làng quê, người đàn bà quê mùa ấy lên phố gặp và nói với mẹ tôi “Xin mệ (mệ là bà nội hay bà ngoại, tiếng quê tôi), nuôi giùm con tui làm phước. Mệ có cho nó ít tiền công hay không cũng được! Nó không ở được với con nít trong làng, với cả cha nó nữa, coi nó như cái gai.” Mẹ tôi chịu nuôi đứa bé lai. Con nhỏ hơn mười tuổi, khá đẹp, mẹ tôi rất thương. Nhưng hình như quen với cái cảnh cam phận ở làng, nó thường thui thủi một mình, ít chuyện trò với ai. Công việc thường nhựt của con bé ở nhà tôi là nhổ tóc bạc cho mẹ tôi, mặc dầu mẹ tôi hói trên đỉnh đầu đã nhiều, dọn cơm cho mẹ tôi ăn và mẹ tôi sai vặt. Vốn thông cảm hoàn cảnh nó, lại thấy con nhỏ thường thui thủi một mình, mẹ tôi càng thương và gần gũi nó hơn.
“Nắm vững tình hình” như thế, chị dâu tôi “điều tra” ngay con nhỏ:
– “Mệ lấy gạo phải không?”
Con nhỏ thật thà, không dám che dấu cho mẹ tôi, vừa khóc vừa gật đầu.
Chị dâu tôi không nói ngay mẹ mặc dù chị biết mẹ tôi lấy gạo đem cho ai đó ở gánh hát bội. Bà lập ngay một “liên minh”, đem chuyện mẹ tôi lấy gạo với bà chị cả tôi. Dù gì, là con ruột, chị tôi nói chuyện thẳng với mẹ tôi dễ hơn.

Ở miền Trung phải mua gạo từ miền Nam chở ra. Mưa gió tới, giá gạo cao vì giá vận chuyẻn cao hơn. Theo báo chí, kể từ khi “Việt Cộng Đồng Khởi” trong Nam, nhiều vùng nông dân bắt buộc phải đóng thuế nông nghiệp cho Việt Cộng, việc thu mua gạo khó khăn hơn, cũng vì “phải đóng thuế cho Việt Cộng” nên giá gạo tăng nhanh. Đó là lý do chính khiến bà chị tôi hỏi mẹ:
– “Má lấy gạo cho người ta phải không?”
Mẹ tôi không trả lời.
Chị tôi nói tiếp:
– “Gạo bữa ni cao lắm!”
Mẹ tôi nói nhỏ, hình như mẹ tôi hơi ngượng:
– “Người ta sinh mà không có ăn con à! Chẳng thà má nhịn ăn!.”
Anh tôi cũng “tham gia”. Trong bữa ăn, anh tôi nói, gay gắt:
– “Má có lấy gạo cho ai, phải hỏi vợ tui đã!”

Hôm đó, như thường lệ, mẹ tôi ít ngồi ăn chung với con. Mẹ tôi gồi bên cạnh, trên cái rương xe (2). Tôi thấy mẹ tôi quay mặt nhìn ra đường, rồi lấy tay áo chùi nước mắt. Mẹ tôi khóc. Tôi thấy thương mẹ. Mẹ tôi giàu lòng thương người.
Sau đó ít lậu, tôi thấy mẹ tôi thường hay lên phố. Chị tôi nói với tôi: “Má đi chích thuốc cho người ta!” Biết vậy, một buổi chiều đi dạy về, ngồi với mẹ. Nhân lúc mẹ tôi hơi vui, tôi nói:
– “Má bỏ nghề rồi, còn đi chích thuốc cho ai làm chi? Má cần tiền lắm à?”
Tôi hỏi câu ấy vì có lý do riêng tôi. Tôi đi dạy đã nửa năm nay. Cuối tháng, lãnh lương xong, tôi đưa hết cho mẹ. Cần tiêu gì, tôi xin lại.
Mẹ tôi nói:
– “Mấy bà thường đau bệnh phụ khoa. Má chỉ cho họ cách điều trị. Ai nặng lắm thì chích trụ sinh. Chích ở vai, má còn làm được.”
– “Lỡ chích “ven” thì sao?” Tôi hỏi.
– “Chích “ven” thì kêu y tá. Má không chích “ven” được. Mắt má kém!”
– “Nhưng má cần tiền làm chi? Con đưa hết lương cho má mà!”
– “Má để dành cho con. Tiền má kiếm được, má cho mấy người ở gánh hát. Họ đói lắm.”

Việc làm từ thiện nhỏ nhoi của mẹ tôi không cứu được gánh hát bội đang hồi tan rã giữa mùa mưa gió. Một hôm đi ngang chỗ gánh hát, tôi thấy một phần tôn che phía sau bị tháo gở. Đào kép dùng tôn đó để che thành những cái mái nhỏ, thấp. Họ sống chui rúc trong những mái tôn đó, trông qua cũng biết họ quá nghèo.
Thế rồi mẹ tôi nghỉ việc hẵn, không đi lên phố nữa. Đoán chừng gánh hát bội tan, tôi hỏi mẹ. Mẹ tôi nói:
– “Ông bầu gánh trở về xứ, hy vọng vài năm nữa, dựng lại gánh hát mới. Đào kép thất tán cả. Má xin cho một người lên ở đợ với cô Lương – Cô Lương là bạn thân của mẹ tôi – Còn mấy người kia cũng bỏ đi hết, không biết đi đâu. Má không cứu được ai.”
Tôi giải thích cho mẹ:
– “Ngày nay, không ai còn thích xem hát bội nữa. Họ sống làm sao được. Đó cũng là cái nghiệp cầm ca của họ má à!”
– Đã coi là cái nghiệp thì họ trả đến đó là hết. Hết cái nghiệp nầy, qua cái nghiệp khác, đời đời kiếp kiếp, không bao giờ hết cái nghiệp được.”

Hết mùa đông năm đó, tôi không còn dạy học ở quê tôi nữa. Tôi xin dạy ở Huế, nhưng cứ mỗi năm, tết đến là nhằm mùa mưa phùn gió bấc, tôi về ăn tết với mẹ, với gia đình, đi qua chỗ gánh hát cũ, tôi thấy buồn khi nhớ đến gánh hát ấy. Tôi liên tưởng, nghĩ đến hát bội là một phần văn hóa của dân tộc. Nó đã bị đào thải, theo luật tiến hóa của nhân loại.
Tuy nhiên, vì hát bội là một phần văn hóa của người Việt, không ai dễ gì quên nó được. Cũng như cải lương ngày nay đang lịm dần vào cõi chết, người ta đã cố níu kéo nó lại, như níu kéo những hồn ma cũ, mong nó từ cõi âm ty sống lại được chăng?
Không chỉ đào kép mà còn những người mê coi hát như mẹ tôi nữa chi. Với lòng từ tâm, cũng như vì tính mê hát, mẹ tôi cũng đã từng cố níu kéo một gánh hát bội đang hồi tan rã.
Ngày nay, những gánh hát bội của hàng chục, hàng trăm năm trước, cùng với những người mê hát như mẹ tôi, đã ra người thiên cổ. Thiên cổ là cái chết, bao giờ nó cũng để lại một mối sầu cho những người đa cảm, không nói ra thì không ai biết được ai, như câu thơ của Chế Lan Viên vậy: “Sầu vạn cổ tim ta ai biết được!”
Cái thiên cổ ấy để lại một mối sầu man mác, mênh mông cho những ai từng yêu thương một nét văn hóa của dân tộc nay đã lụi tàn./

Hoàng Long Hải
(1) Đào Tấn, tự là Chỉ Thúc, sinh năm Ất Tị, (1845) quê ở Bình Định, mất năm 1907. Sinh thời, ông làm thơ, và soạn tuồng hát bội. Ông được xem là ông tổ hát bội của nước ta. Đào Tấn đã đậu cử nhân khoa Đinh Mão (1867) tại trường Bình Định, triều Tự Đức. Ông làm quan từ đời Tự Đức đến đời Thành Thái (1871 – 1904), qua các chức vụ Tham biện, Phủ doãn, tổng đốc, thượng thư, hàm nhất phẩm, được phong Hiệp biện Đại học sĩ, tước Vinh Quang tử.
(2) Rương xe: Cái rương lớn, làm chỗ ngủ được, có bánh xe để di chuyển, thường dùng ở thôn quê./

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

NGUYỄN LỆ UYÊN * Nguyễn Bắc Sơn và tiếng thơ bi hài


clip_image003



"Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau" (NBS)




Khoảng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, giữa những người làm thơ tự do và “làm dáng” theo thơ tự do, những người làm thơ tranh đấu theo kiểu “hiện thực nửa mùa, khẩu hiệu”, bỗng xuất hiện lẻ loi một khuôn mặt mới toanh mang phong cách của “trường phái” thơ ngang tàng, khẩu khí, khinh khoái đúng với chất hiện thực phơi bày nhan nhản trong cuộc sống khốn đốn thời bấy giờ, rất không giống ai.

Đó là trường hợp của Nguyễn Bắc Sơn, người thọc chân vào làng thơ như một kẻ “du côn chữ nghĩa”, một hành giả rong chơi dọc ngang trong trận đồ bát quái giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa hạnh phúc và khổ đau, giữa đạo và phi đạo, giữa tốt và xấu; để cuối cùng nghêu ngao một câu hát rong: kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng / hoặc nhà thơ theo khí hậu từng mùa. Sự thọc chân bất ngờ của Sơn, ví von một cách trần trụi, cũng tỉ như bứt sợi lông gà ngoáy vào lỗ tai kẻ khác, gây cảm giác nhột nhạt vừa khó chịu, vừa thích thú.

27 bài thơ phơi trải trong Chiến tranh Việt Nam & tôi đã được đón nhận (thời đó) bằng những thái độ khác nhau: Các nhà làm chính trị và đạo đức giả cầy gọi thơ Nguyễn Bắc Sơn là “con sâu bệnh hoạn”, là “phản chiến, khiếp nhược”, các em tiểu thư khuê các vừa nhắm mắt vừa đọc, vừa thè lưỡi rụt đầu vừa rung bần bật những khoái cảm sũng nước. Và chỉ có những kẻ bị xô đẩy vào chốn “du côn, du đãng” mới đồng cảm được tiếng thơ bi hài lồng lộng bão cát, chói chang lửa đỏ và dầm dề mưa lũ. Sự đồng cảm đồng điệu đồng tình của những con người cùng một thế hệ đang phơi lưng nướng trui trên lò than hồng rực đỏ, khét lẹt ngoài chiến trường, để tập làm Thảo Khấu:
Vì sao ta đến đây hò hét
Học trò bẻ bút tập mang gươm
Tập uống máu người thay uống nước
Múa may theo lịch sử điên cuồng.
Những tra khảo tâm óc dường như chưa hề có câu trả lời, không thể trả lời nổi, để cuối cùng phó mặc mọi sự đẩy đưa. Mặc kệ tất. Thằng nào giương cao ngọn cờ cứ giương, đứa nào hò hét cứ hò hét, cứ xông tới và trốn chạy, xông tới và ngã xuống, chiến thắng và bại trận. Tất cả đan chéo vào nhau như đường gươm ma thuật của phái Bạch Mi. Riêng ta bỏ tuốt cái phía trước và phía sau, bỏ cái quyền uy và khuất phục để làm một kẻ lãng đãng khói sương trong khói lửa mịt mùng kinh lợm:
Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic
Kẻ thù ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo

clip_image005
Không lạ, không xa mà cũng chẳng nhọc nhằn lý giải theo phép biện chứng khi mà guồng máy xay thịt cứ nghiền nát từng cánh tay, bàn chân, thân thể con người. Những công dân, những đồng bào, họ không bao giờ muốn thân xác mình biến thành món thịt băm; họ đâu muốn bắn giết nhau. Chỉ có các ngài chính trị lợi dụng sự cả tin, phều ra chút nước bọt để tranh giành quyền lợi cá nhân theo mộng tranh bá đồ vương, nên “lúc này đây ta không thèm đánh giặc”. Ta “không thèm đánh giặc” bởi trong đầu óc ta luôn nghĩ:
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Đến nỗi nhà văn Võ Phiến phải thốt lên: “Bên kia là: những đứa điên say”; bên này là “ta” coi đánh giặc như trò chơi. Hoàn cảnh phải chăng đã xui có cái bất cần này để quân bình lại cái quá đáng kia. Óc hài hước bên này để hiểu chính óc mộng tưởng bên kia? (Võ Phiến, Chúng ta qua cách viết, NXB Giao Điểm, SG 1972)

Từ một thái độ rạch ròi như vậy, trong cuộc hành quân, dưới con mắt nhà thơ “du côn” là chuyện vặt, không phải của bản thân mình nên kêu các “ngài du kích” đứng xê ra, đừng có bắn nheo để ta “dừng quân nơi đây nói chuyện tiếu lâm chơi”.
Cũng vì chiến tranh là thứ “tai trời ách nước”, thân phận ta như cánh bèo dạt lên bãi bùn khô thì sống chết cũng là chuyện vặt:
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui.
Chất bi thảm trong Mật Khu Lê Hồng Phong một lần nữa lật tung ra bề trái thúi hoắc của câu nói thời thượng từ cửa miệng các nhà đạo đức giả, trong hoàn cảnh này như cái tát của một cô gái điếm vào mặt những tên chính trị ma đầu, ma cô!
Người sống sót nâng ly mời kẻ khuất
Lại gần đây trên bãi cỏ bờ sông
Soi mặt mình trong dòng nước xanh trong
Để nhìn thấy hình bản lai diện mục
Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt
Xin giã từ đời vũ khí, huy chương
Xin trở về như một kẻ hoàn lương
Xin vứt hết xin bắt đầu lại hết
(Tiệc tẩy trần của người sống sót)
Nói theo cách nói của Cao Huy Khanh lúc chúng tôi nằm chung ĐĐ 31 trường Võ Bị Thủ Đức khóa 6/70, thì cuộc chiến tranh này dưới con mắt của Nguyễn Bắc Sơn là “cuộc nhàn du vào con đường huyệt tận, là sự nghêu ngao trên chiếc giá treo cổ hận thừ”, mà Sơn thì như một con sóc trước bờ vực sống và chết, luôn cười ha hả, sướng điên một nỗi buồn tênh vô cùng thênh thang, ngan ngát những hương thơm của hoa cỏ, nắng ấm, suối trong… và chung quanh là mã tấu, lưỡi lê, bom đạn!
Có lẽ vì thế mà phong thái khinh bạc cứ mỗi lúc mỗi đậm đà hương bưởi hương cau:
Khi tao đi lấy khẩu phần
Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan
Mùa này gió bãi mưa ngàn
Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà
Những thằng lính trẻ hào hoa
Lưu đày trong cõi rừng già núi xanh
Lao mình vào cuộc phân tranh
Tiếc thương xương máu sinh thành được ư
(Một tiếng đồng hồ trước khi lên đường hành quân)
Suốt dọc Chiến tranh Việt Nam & tôi, tôi cố tìm chất anh hùng ca kiểu Homère với những Odyssée, Iliad … nhưng chỉ toàn những bi hài đan xen vào nhau bằng những tiếng cười vui cứa nát trái tim:
Mày gửi một chân ngoài trận mạc
Mang về cho mẹ một bàn chân
Mẹ già khóc đến mù hai mắt
Đời tàn trong lứa tuổi thanh xuân
(Căn bệnh thời chiến)
Cỗ máy băm thịt khổng lồ kia đã biến đổi nhân cách con người một cách tàn tệ nhất, để mọi người ai cũng có thể nhận ra, nhưng Nguyễn Bắc Sơn hơn mọi người là dám thốt thành lời, mà lại là lời thơ khôi hài như một lưỡi dao nhọn hoắt:
Ngày trước mày hiền như cục đất
Giờ mở miệng ra là chửi tục
Hà hà ra thế con nhà binh
Ngôn ngữ thơm tho như mùi cứt
Ngày trước mày định đi tu tiên
Giờ lính tu bi-đông ừng ực
[...]
Giờ tối nằm mơ chỉ thấy tiền
Nhân nghĩa gì gì quên tuốt luốt
(Bài hát khổ nhục)
Con người bước vào rồi may mắn bước ra khỏi guồng máy chiến tranh cuối cùng chỉ là “như rượu còn ly cặn”, là “kiếp ngựa què”.
Trong Chiến tranh Việt Nam & tôi, còn có một Nguyễn Bắc Sơn thứ hai ngoài chất du đãng phóng khoáng, ngoài chất du côn khinh bạc, ngoài chất du kề bi hài. Đó là một Nguyễn Bắc Sơn từng trải, bay bổng lên cao và chui sâu dưới tối, căng mắt, căng tai mở toạc trái tim và tâm hồn để đắm chìm trong dòng triết học phương Đông trầm mặc, như chính anh đã tự vẽ chân dung mình:
Trên trái đất có rừng già núi non cùng biển sông
Trong Nguyễn Bắc Sơn có kẻ làm thơ
Kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng
Hoặc nhà thơ theo khí hậu từng mùa
(Chân dung Nguyễn Bắc Sơn)
Anh đứng giữa hai thái cực cuộc đời, chiêm vọng nó, hít thở, hoà tan như thể một trưa hè tắm sông và khi bước lên bờ, anh chính là Nguyễn Bắc Sơn chứ không là con người nào khác, mới toanh, mát mẻ: 
Trong đáy giếng nhà tôi
Sống một con cá trào [tràu?] già
Những đêm trăng
Dường như y không sao ngủ được
Y bì bõm
Chơi đùa cùng ánh trăng, khí hàn và nước
Tôi ngồi bên thành giếng
Im lìm chiêm ngưỡng y.
Nói về Nguyễn Bắc Sơn và thơ Nguyễn Bắc Sơn thì còn muôn trùng điều để nói, để chọc xẻ và ngắm nhìn, để phanh thây và quàng vai. Công việc đó xin mượn lời các nhà văn đã từng nói, viết về anh:
“Phong thái ngang tàng mà khinh khoái, chết thì thôi, còn sống thì còn vui. Chẳng những trước khi đụng trận một ngày, mà trước khi hành quân một giờ, Nguyễn Bắc Sơn cũng thản nhiên “khơi khơi chấp hết” [...] Chiến tranh đối với họ đã trở thành chuyện cơm bữa, không còn lý do gì để đại ngôn, lớn lối nữa”. (Võ Phiến, Bách Khoa số xuân Canh Tuất)
“… Đọc thơ Nguyễn Bắc Sơn tôi có liên tưởng đến tiếng thơ Quang Dũng trong bài “Tây Tiến”, chỉ khác thơ Quang Dũng là kết tinh của một hoàn cảnh bi hùng, còn thơ Nguyễn Bắc Sơn là kết tinh một hoàn cảnh bi hài”. (Doãn Quốc Sỹ, Văn số 185 ngày 1.9. 1971)
“… Có cái ngang tàng đượm màu sắc Lão Trang, đánh giặc không cần lý tưởng mà vẫn đánh, coi cuộc chiến như trò chơi, thương xót kẻ thù như ruột thịt”. (Chu Tử, tuần báo Đời số 9 tháng 11.1969) 
“Mấy bài viết về chiến tranh có cái hào sảng, bi đát của tướng Thần Quang Dũng. Bài “Chân dung Nguyễn Bắc Sơn” thật hay. Đọc được một bài thơ hay thấy sung sướng cả ngày”. (Viên Linh, thư riêng ngày 27.11.1969)

Các bạn độc giả không tin ư? Cứ bỏ tiền ra mua tập Chiến tranh Việt Nam & tôi (do hai bạn văn Phạm Văn Nhàn và Trần Hoài Thư sắp xếp, tái bản). Nói như Viên Linh thì với 27 bài thơ của Sơn các bạn sẽ sướng cả tháng, cả năm. Nếu chưa tin, tôi chép lại nguyên văn mấy dòng trên đầu sách để giới thiệu tập thơ này (do Ngô Nguyên Nghiễm phóng bút) khi xuất bản lần đầu 1972:“Tập thơ hát lên tiếng hát lồng lộng bi tráng của một người tham dự chiến tranh Việt Nam, một thiền sư bụi đời, một gã du đãng trầm mặc.
Những bài thơ xa như tiền chiến, xưa như Đường thi, nhưng kỳ lạ thay, mới tinh và gần gũi như sáng hôm nay…”.
Một đoạn phỏng vấn giữa Nguyễn Lệ Uyên và nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn:
Ng: Ông làm thơ từ hồi vào vậy?
NBS: Tôi không làm thơ. Tôi chỉ gồng gánh thơ đi chơi.
Ng: Gánh thơ vào chiến trường, hậu cứ, nhà thổ…?
NBS: Chỗ nào tới được thì ta cứ đi.
Ng: Ông gánh cả rượu đế Nùng và mấy chục chai bia theo khi hành quân?
NBS: Bốn chục chai đồ bỏ.
Ng: Gan bẩm vậy sao khi “Qua cầu sông Luỹ nhìn quanh quất / Nước đỏ cầu đen chợt nhớ nhà“?
NBS: Ồ cũng lạ thiệt. Đôi khi tôi cũng tự hỏi: “Sắt đá ồ sao lại nhớ nhà”. Cái đó mới kỳ.
Ng: Không kỳ sao được khi “Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng / Còn ngại hành quân động Thái An“? Động Thái An nay còn không?
NBS: Còn mất, mất còn; có không, không có.
Ng: Thật tội nghiệp cho các cô gái ở bốn quận miền Bắc, nơi “có nhiều nhà điếm và nhiều trại lính”.
NBS: Bởi vậy nên tôi phải “Gửi tâm hồn vào những đám mây bay / Đi tranh luận cùng thánh hiền thiên cổ”.
Ng: Đó là chuyện hồi xưa, cũ mèm, trên ba mươi năm rồi. Còn giờ thì sao?
NBS: Giờ?
Ng: Ừ, giờ?
NBS: Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc
Vô tình ngang một quán cà phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về.
Ng: Bấy nhiêu đó?
NBS: Ông móc trong đáy thùng thử coi.
Ng: Tôi lượm quanh hồ Than Thở và hồ Xuân Hương, để tôi đọc cho ông nghe:

Về đâu đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba ngàn thế giới cũng chưa to

Tháng Giêng ngồi quán, quán thu phong
Gió nhạn môn quan thổi chạnh lòng
Chuyện cũ nghe đau lòng tứ xứ
Thương Kiều Phong, nhớ tiếc Kiều Phong

Tháng Giêng có kẻ đi tìm cúc
Nhưng cõi đời đâu có Cúc Hoa
Thấy đám phù bình trên mặt nước
Biết mình đi lộn nẻo bao la

Lạng quạng ra bờ sông ngó nước
Trên bờ dưới nước gặp ông câu
Ta câu con đú ngươi con đẻn
Chung một tâm hồn tất gặp nhau

Ghé thăm ông bạn trồng cây thuốc
Mời nhau một chén rượu trường sinh
Bát cơm tân khổ trong tù ngục
Câu chuyện năm năm khiến giật mình

Khi gã Yêu Ly đâm Khánh Kỵ
Là đâm trúng phải trái tim mình
Sông Mường Mán không dung hào kiệt
Muôn đời bóng núi đứng chông chênh

Nằm ngủ dưới cây nghìn cánh hạc
Dường như mặt đất tiết mùi hương
Ngủ thẳng một lèo chiều mới dậy
Dường như mình cũng mộng hoàn lương

Dường như đứa trẻ nghìn năm trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua

NBS: Mẹ kiếp, thơ thằng nào mà thơm như cứt!?
Ng: Hình như đó là thơ của Nguyễn Bắc Sơn.
NBS: Hắn là thằng nào vậy?
Ng: Nghe nói hắn là một tên bụi đời thượng hạng ngoại hạng.
NBS: Gã láo thật.
Ng: Vâng, láo. Ông còn gì để nói với độc giả Thư Quán Bản Thảo không?
NBS: Ông nhắn giùm các cô gái nhà lành, những thằng làm chính trị, những thằng đạo đức giả chớ có đọc loại thơ trong thúng mủng cảo nia trên đường bụi bặm.
Ng: Cảm ơn ông.
NBS: Không cần!



Nguyễn Lệ Uyên
(tháng 6/05)