Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi Ca. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi Ca. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

NGUYỄN AN BÌNH ** Hoa Hướng Dương Vẫn Nở


1-Hoa hướng dương vẫn nở dưới ánh mặt trời

Trên cánh đồng miền đông Ucraina đầy nắng gió*

Một màu vàng rực rỡ như chưa hề xảy ra điều gì trước đó

Một ký ức đau buồn không thể nào quên

Những mảnh vở máy bay rơi khắp nơi sau tiếng nổ rền

Như một chùm pháo hoa rực sáng

Mang theo cuộc hành trình đầy bi thảm

Của 298 con người vào cuộc viễn du không bờ bến

Trên chiếc boeing 777

Ký hiệu MH 17

Ngày 17 tháng 7

Ôi những con số 7 thật kỳ lạ

Nó báo hiệu điều gì không ai biết

Một năm không còn để lại dấu vết

Chỉ còn lại sự kinh hoàng, nỗi thương nhớ khôn nguôi

Cùng dòng chữ “Hãy dừng lại và cầu nguyện” giữa trời

Bên cánh đồng hoa vừa hé nụ.



2- Hoa hướng dương vẫn nở dưới ánh mặt trời

Không phải trên cánh đồng miền đông Ucraina đầy bạo lực

Mà nở trên những miền đất xa xôi hàng nghìn dặm

Nơi những người thân vần mỗi ngày nuôi hy vọng

Con em, bạn bè sẽ trở về

Từ hạt giống của người nông dân Ucraina tốt bụng

Những chùm hoa đầu tiên đã nở

Ngọn nến trắng, những cánh hoa vàng rực rỡ

Đặt bên cạnh di ảnh người đã mất

Họ có cuộc hành trình quá dài để trở lại nhà từ một thế giới khác

Trên những cánh hoa hướng dương

Nhắc mọi người nhớ họ vẫn còn quanh quẩn đâu đây

Trong tiếng cười vui hạnh phúc tràn đầy

Thời gian không thể hàn gắn nỗi đau

Nhưng trời vẫn xanh mây vẫn bay

Và hoa hướng dương vẫn nở.

*Tin báo: Ngày 17/7/2014 chiếc máy bay boeing 777, ký hiệu MH 17 bị bắn rơi trên cánh đồng hoa hướng dương miền đông Ucraina làm 298 người chết.

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

TRÚC THANH TÂM ** Cuộc Sống Muôn Màu

Thuở yêu đời chim thường ăn kiến
Lúc hết thời kiến lại ăn chim
Ôi, cuộc sống như trò ảo thuật
Ranh giới nào phân biệt trắng đen !


Đâu phải hơn người là trên tất cả
Khi thời gian còn quyền lực hơn ta
Ai chiến thắng mà không lần thua trận
Lúc soi gương mới thấy lại mình già !

Phàm con người chỉ có hai con mắt
Nhìn trước để đi, nào phải phía sau
Có đôi tai nghe điều hay lẽ thiệt
Thế giới bao la cuộc sống muôn màu !

Miệng và lưỡi chúng ta có một
Nói ít thôi luôn phải lắng nghe
Với bộ não mang tầm trí thức
Hướng nhân gian có lối đi về !

Trái tim máu đỏ trong lồng ngực
Nhịp yêu thương từ giây phút thiêng liêng
Ta có quyền không tin lời thuyết giảng
Không thể không tin nhân quả nhãn tiền !

Em có biết lòng dân là sức mạnh
Dựng quê hương bảo vệ nước non nầy
Những que diêm thoát thay từ khúc gỗ
Nhưng que diêm làm cháy cả rừng cây !

TRÚC THANH TÂM

TRẦN VẤN LỆ ** Thơ Tôi Một Chữ


Trời tạnh mưa rồi, không thấy bướm. Vườn chưa có nắng, bướm không sang? Nụ hoa hé nở mình tôi ngắm cứ ngỡ như mình đang ngắm trăng?

Ờ nhỉ tại sao mình cứ phải ban ngày không được nói ban đêm? Bao nhiêu người nhớ nhung thời trẻ, ai buộc người ta sống-để-quên?


Sống-để-quên, đời có nghĩa gì…hỡi con bướm trắng bỏ tôi đi, hỡi bông giấy nở bên hàng xóm, sống để quên và sống-biệt-ly?

Tôi ngắm hoa và tôi tự hỏi: quê mình đã nở mấy mùa hoa? Bên sông cũng có hoa đào chớ…ai có buồn đâu một thuở xa!

Đêm qua mưa chẳng chi nhiều lắm, nghe tỉ tê nhiều ít vọng âm…Tôi ngắm nụ hoa tìm cái bóng. Bóng mờ…cái bóng một đêm trăng!

Nói bướm, nói hoa rồi nói nguyệt, chỉ còn trước mặt nụ hoa thôi, lát rồi hoa nở, hoa tàn tạ…tôi tạ tàn theo nỗi nhớ người?

Ơi hỡi người xa như bướm duyên! Tôi thương thương lắm má đồng tiền, em giàu có đủ tôi mơ ước…mà chẳng bao giờ tôi có em!

Trời hết mưa. Trời chưa có nắng. Tôi làm thơ, đã có bài thơ. Mỗi ngày tôi hứa thơ tôi có…cho cố nhân là em-rất-xưa!

Cho cố nhân, là em, cố hương, cho Đà Lạt đó, xứ-mù-sương, dẫu ngàn năm nữa không về lại, em giữ muôn năm nhé, chữ Buồn!


Trần Vấn Lệ

NGUYỄN CAO CAN * Nguyễn Bính, Nhà thơ bình dân Si Tình và Lãng Mạn

Ai đọc thơ của nhà thơ Nguyễn Bính mà không thấy cái độc đáo của hồn dân tộc đã ấp ủ trong thơ của ông, hay nói cách khác Nguyễn Bính đã đưa hồn dân tộc vào thi ca Việt nam hiện đại. Ông là người đã góp công rất lớn vào nền văn học Việt Nam, những câu thơ giản dị, bình dân đã làm cho người đọc, khi đọc lên chỉ một lần đã thấy lòng mình lâng lâng giao cảm, dễ đọc, dễ mến và nhất là dễ thuộc. Nhưng có ai ngờ được rằng Nguyễn Bính lại có một cuộc sống lãng mạn và giang hồ giống như thơ của ông.

Nguyễn Bính thi sĩ lãng mạn và giang hồ.

Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, Bút hiệu của ông là Nguyễn Bính, sinh năm 1918 tại xóm Trạm, thôn Thiên Vịnh, xã Đồng Đội nay là xã Cộng Hoà, huyện Vụ Bản thuộc tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ lúc mới lên ba, do đó bố ông có một bà kế mẫu, nhưng nhà vẫn nghèo nên ông được bên ngoại đưa về nuôi nấng dạy dỗ tại thôn Vân Tập cũng cùng xã Đồng Đội.
Cậu ruột Nguyễn Bính là ông Bùi Trình Khiêm lãnh trách nhiệm nuôi nấng ông. Được biết ông Bùi Trình Khiêm là một nhà nho có tiếng trong vùng thời đó đã tham gia vào phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, ông Khiêm cũng là thầy giáo dậy ông Trần Huy Liệu. Nhờ  người cậu giỏi hán văn mà Nguyễn Bính có môi trường tiếp xúc sớm với chữ nghĩa, thi phú và nghệ thuật.


Khi Nguyễn Bính được mười ba tuổi đã làm kinh ngạc về tài thi phú của mình nhân vào dịp lễ hội Phủ Giầy (Nam Định) thường tổ chức vào tháng Ba Âm Lịch hằng năm, trong lễ hội năm này có tổ chức cuộc thi thơ. Năm đó ban tổ chức chọn đề thi là " Hãy tả cảnh chọi gà trong ngày lễ hội"  Đề tài vừa ra, ông lấy bút giấy viết liền, chỉ chưa đầy nửa thời gian của ban tổ chức ấn định Ban Giám Khảo đã thấy Nguyễn Bính đã lên nộp bài thi. Mọi người đều ngạc nhiên nhất là những vị trong Ban Giám Khảo. Bài nộp của Nguyễn Bính dài hơn ba trang giấy , kể ra như vậy là ông đã viết khá dài. Sau  khi Ban Giám Khảo xem xét và cân nhắc, đã quyết định trao giải thưởng hạng nhất cho bài thơ của nhà thơ Nguyễn Bính.
Liền ngay đó BGK đã dùng loa phóng thanh đọc bài thơ  được giải nhất ở giữa sân đình cho mọi người nghe. Nghe xong, tức thì hàng ngàn người đang tham dự lễ hội có mặt,  đều nhất loạt vỗ tay hân hoan chúc mừng nhà thơ thiên tài Nguyễn Bính, có những cặp thanh niên còn cao hứng công kêng Nguyễn Bính lên vai, làm chàng trai NB vừa mới lớn được nhìn từ trên cao hơn người xuống nhìn ngắm những cô gái đang đi dự lễ hội một cách hãnh diện và thoải mái, trái lại những cô gái xuân xanh mơn mởn đang ước tấm chồng nhìn lên anh thi sĩ đầy cao ngạo mà ước muốn được lấy chàng làm chồng . . .

Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến, xuân đi, hoa mận nở
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân
Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
Đôi tám xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?
Bài thơ "Gái Xuân" trên mà NB mô tả một nàng thôn nữ diễm kiều đang mơ mộng thật nhiều, cô đang mơ một tấm chồng, si tình một chàng trai nào đó có thể là thi nhân Nguyễn Bính chăng? Nên chàng hỏi "Đêm xuân cô ngủ có buồn không?" Từ ngày chàng được đám đông vỗ tay tán thưởng  sau cuộc thi ở Phủ Giầy năm ấy, NB lại càng cao hứng để sáng tác những vần thơ trữ tình làm nhiều người say mê, các cô thiếu nữ thì mê mẩn si tình như trong bài Chờ Nhau dưới đây:
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn dập miếng giầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng chung một ngõ vội vàng chi anh
Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình với nhau.
Ai làm cả gió đắt cau,
Mấy hôm sương muối cho trầu đổ non.
Trong câu ' em nghe họ nói mong manh, hình như họ biết chúng mình với nhau ' quả tình là thi vị và lãng mạn, không còn nề nếp gia phong cổ hủ trai gái thụ thụ bất thân như ông bà ta thường nói.  Tuy thế nhưng với bài Cô Hàng Xóm  mà NB mô tả rằng nhà chàng ở cạnh nhà nàng mà vì lễ giáo nên còn hơi e ngại.
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn.
Hai người sống giữa cô đơn,
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
Giá đừng có dậu mùng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.
Cho nên chàng chỉ dám nhẹ nhàng nằm mơ thôi:
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng...
Có con bướm trắng thường sang bên này.
Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi...
Chả bao giờ thấy nàng cười,
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên.
Cảnh mưa thì thật buồn, nhà thơ NB mô tả như sau:
Tầm tầm giời cứ đổ mưa,
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm.
Cô đơn buồn lại thêm buồn,
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?
Chàng gửi hồn cho bướm trắng để chịu tang khi biết nàng đã thành người thiên cổ. NB quả là một người si tình và lãng mạn, mặc dầu chàng chưa hề mặt mặt cầm tay nàng lấy một lần mà đã nghẹn ngào, đau sót và  nói rằng mình đã yêu nàng. Thật đúng là chàng vừa si tình lại hết sức lãng mạn.
Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Đêm qua nàng đã chết rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc... Quả tôi yêu nàng.
Kết luận một điều làm người đọc ngỡ ngàng sau  khi nàng chết, NB còn mơ tưởng rằng  nếu hồn trinh của Cô Hàng Xóm còn ở trần gian thì hãy nhập vào bướm trắng để qua với chàng thì sung sướng biết bao!.
Hồn trinh còn ở trần gian?
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này!
Rồi,  một  câu chuyện thú vị và si tình khác của Nguyễn Bính nữa mà nhiều người còn nhắc tới:  Số là năm ấy ông vừa tròn mười bốn tuổi Nguyễn Bính đi dự hội Phủ Giầy một lễ hội mà ông rất mê từ thuở nhỏ. Hôm đó ông đang ngồi xem hát hầu đồng bóng, khi thoáng thấy một cô gái trạc tuổi ông  đi ngang qua. Cô bé người cao ráo mặc áo cánh sen thắt lưng hoa lý trông rất xinh. Cô ấy đi cùng với một người đàn bà  có lẽ là mẹ nàng.  Vẻ đẹp sắc nước nghiêng thành, lạ lùng như nàng vừa thoát ra từ bức tranh Tố Nữ treo ở tường trong phòng khách của một vị quan mà ông đã đưọc xem khi đi thăm ông quan ấy với người cậu, vội vàng ông chạy theo cốt nhìn cho bằng được khuôn mặt cô nàng, rồi ông ngơ ngẩn như người mất hồn khi diện kiến. Cả ngày hôm ấy, ông cứ đi theo hai mẹ con nàng, ông theo cả vào chùa trong để lạy cùng lạy, khấn cùng khấn với hai mẹ con nàng đến nỗi ông quên cả thời gian mãi cho đến chiều.
Gió chiều cầu nguyện đâu đây,
Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu.
Sư già quét lá sau chùa,
Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông.
Si tình đến thế nên ít có người sánh kip. Ngoài việc lãng mạn si tình, NB còn được dân gian coi như một vị thần dùng thơ để bói toán nên người cùng thời đặt cho ông danh hiệu là 'chú bé thần đồng ', nhiều lời đồn đãi thêu dệt khiến nảy sinh ra nhiều chuyện bất ngờ . Lúc đầu người ta nhờ NB gà thơ cho những cuộc thi có hát đối đáp vì ông có tài đối ứng tức thì, nên thường bên nào có ông giúp thì đều thắng cuộc thi, làm đối phương tức giận. Tuy nhiên cũng nhờ tài đó mà ông được dân chúng ngưỡng mộ, thời đó dân trí còn thấp kém nên đã có người tôn ông lên đến tột đỉnh vinh quang, có người ngờ rằng ông là người của "cõi trên" hiện xuống vì do sự sùng kính quá đáng  mà thành mê tín, tin rằng thơ NB là thơ Tiên, được giáng nhập vào cậu bé thần đồng chứ chẳng phải là thơ của người bình thường sáng tác. Thậm chí đến nỗi  người muốn dựng vợ gả chồng cho  con cái, hay những cặp trai gái gặp đường tình duyên trắc trở, hoặc làm ăn xui xẻo v.v. đều đến nhờ "Câu" cho thơ "Tiên"!  "Cậu" tuỳ theo hoàn cảnh của thân chủ lại cho thơ "Tiên".

Một lần kia, gia đình nông dân nghèo có một cô gái vừa tuổi cập kê, một thanh niên con nhà giầu ở làng kế bên  đến hỏi xin cưới làm vợ. Nhưng phiền một nỗi nàng đã có một người yêu khác trong làng, người này tuy nghèo nhưng như cô nhưng cách ăn nết ở cũng khá. Gia đình cô gái phân vân không biết quyết định ra sao cho phải nên đã tìm đến "Cậu"  Cậu" liền lấy bút giấy viết ra "dòng thơ phán bảo" như sau:
"Của dẫu nhiều nhưng vẫn chẳng nên
Phù vân, giả dối chẳng lâu bền
Tình em đâu phải trao thiên hạ
Dành để trai làng mới đẹp duyên"
Thế là gia đình người thiếu nữ đành nghe lời thơ Tiên của Cậu  gả cô cho trai làng, mà từ chối gả cho chàng thanh niên làng bên giầu có. Một  chuyện thật độc đáo là có một anh chàng hành nghề đạo chích nghe nhà Thơ NB có thơ Tiên linh hiển lắm nên cũng tìm đến xin thơ Tiên và được Nguyễn Bính "giáng" cho mấy câu thơ, đọc xong thơ Tiên thì anh đạo chích bỏ luôn nghề ăn trộm. Trở lại nàng Tố Nữ mà NB gặp ngày trẩy hội  Phủ Giầy, hết ngày lễ hội thì chàng còn tò tò theo nàng nhiều ngày nữa, chàng luôn luôn đi theo bên  nàng cho đến ngày thứ tư, chàng lén dúi được vào tay cô Tố Nữ một mảnh giấy có mấy câu thơ sau:
"Em ở cõi trần hay cõi tiên?
Phủ đền nhang khói nức hương em
Xin đi chầm chậm cho theo với
Lộc Thánh dâng người một trái tim".
Cô gái Tố Nữ nhanh nhẹn cầm lấy mảnh giấy nhưng nàng thẹn thùng ngó lơ đi nơi khác. Tuy vậy chỉ cần như thế là chàng đã mãn nguyện sung sướng tràn ngập trong lòng rồi. Như thế phải chăng Nguyễn Bính đã là một thi sĩ thật lãng mạn và si tình. Cuộc tình vẫn chưa chấm dứt, nàng sau đó đã theo mẹ về quê và chàng tìm cách đi theo cho đến tận nơi  nàng ở. Tuy nhiên có lẽ mối tình đầu này kết quả chỉ đẩy đưa tới đó mà thôi bởi vì chỉ chừng ba tháng sau thì gia đình nàng  đột ngột bán nhà chuyển đi nơi khác, thế là người tiên Tố Nữ của chàng đã biến mất, nhưng hình ảnh nàng Tố Nữ  trẩy hội Phủ Giầy đầu chít khăn nhung mỏ qụa, có lúc nàng thả tóc đuôi gà thật xinh vẫn luôn ám ảnh trong tâm hồn chàng thi nhân Nguyễn Bính, một bóng hình khó lạt phai.

Nguyễn Cao Can

NGUYỄN AN BÌNH ** Chim Ơi Hãy Bay Về Phía Mặt Trời


1-Muốn ngồi từng đêm nghe bạn kể về loài chim thần thoại(1)
Một loài chim có chớp cánh thần kỳ
Mới sinh ra đã sải cánh lên bầu trời cao rộng
Bay không mệt mõi về hướng mặt trời lồng lộng

Về ngọn núi đầy cành gai sắc nhọn  
Như một lưỡi gươm bén ngót
Lao thẳng mình vào vách đá cheo leo
Bỗng tiếng hót vút lên với bao thanh âm kỳ vĩ
Khi dòng tinh huyết bắt đầu tuôn chảy không thôi
Rồi gục chết trước cảnh huy hoàng của buổi bình minh rực rỡ .

2-Sao lại là loài chim chỉ có trong truyền thuyết
Dâng hiến đời mình bằng lời ca rất tuyệt
Hừng hực trái tim chàng Đan-Kô cháy hoài ánh lửa(2)
Thành ngọn duốc soi đường giữa đêm tối thẳm sâu
Như một phép lạ nhiệm mầu
Vượt qua  khu rừng ma thuật
Vượt qua lũ người quỉ ám
Đưa bộ tộc thoát khỏi kẻ thù hung bạo hồi sinh từ cõi chết
Thanh thản ra đi  khi hoàn thành sứ mệnh
Của một con người yêu xứ sở quê hương.

3-Hãy biến giấc mơ thành hy vọng yêu thương
Và ai đó trao cho ta niềm tin sự sống
Chấp cho ta sức mạnh bay về phía mặt trời cao rộng
Bằng đôi cánh của loài chim báo bão
Đi vào dông tố bằng tuổi thanh xuân táo bạo
Như loài chim huyền thoại chỉ có trong lời kể dân gian
Dâng hiến trái tim rực lửa của chàng Đan-Kô  kiêu hảnh
Cho cuộc sống hôm nay
Cho hạnh phúc ngày mai
Để đất nước lại được một lần hồi sinh
Khi khói phần thư vừa tắt.
                  14/8/2015
_________________________________________________________

  1. Theo truyền thuyết của phương Tây có một loài chim mới sinh ra đã sải đôi cánh bay về ngọn núi thật xa có đầy những bụi gai nhọn như những lưỡi gươm và đâm vút vào đó, khi những dòng tinh huyết chảy ra nó cất cao tiếng hót thật kỳ vĩ lay động cả đất trời trước khi gục chết vì những dòng tinh huyết đã cạn.
  2. Đan- Kô: tên một người anh hùng trong một truyền thuyết  mà nhà văn MaXim Gorki(Nga) đã kể lại trong một truyện ngắn: Đan-Kô dùng trái tim biến thành ngọn đuốc soi đường đưa bộ tộc mình thoát khỏi kiếp nô lệ tìm về vùng đất tự do.

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

thơ NGUYỄN BẮC SƠN


Thiếu nữ
Đứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình lạnh buốt mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên chợt nhớ mắt một người thiếu nữ
Đã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ mòng thuở đó.

Cười lên đi, tiếng khóc bi hùng

Đời bắt một kẻ làm thơ như ta đi làm lính
Bắt lê la mang một chiếc mai rùa
Nên tâm hồn ta là cánh đồng úng thuỷ
Và nỗi buồn như nước những đêm mưa

Trong thành phố này ta là người phản chiến
Ngày qua ngày ta chỉ thích đi câu
Râu tóc mọc dài như bầy cỏ loạn
Sống thật âm thầm, ai hiểu ta đâu

Dù đôi khi ta lên núi Tà Dôn uống rượu
Trời đất bao la ta chỉ một mình
Nhưng làm sao quên cuộc đời dưới đó
Quên những thằng người bôi bẩn kiếp nhân sinh

Ngày hôm nay ta muốn chặt đi bàn tay trái
Để được làm người theo ý riêng ta
Ngày hôm nay ta muốn thọc mù con mắt phải
Ngày hôm nay ta muốn bỏ đi xa

Khi nâng chén lên cao ta muốn cười lớn tiếng
Cười lên đi, cười những tiếng bi hùng
Đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm lính
Chiếc mai rùa đã nặng ở trên lưng

Người hoa khôi áo rách

Rồi một hôm gió bấc có ai ngờ
Ai lãng đãng ngờ chi cơn gió bấc
Cây bạch đàn trước cửa nhà em đang còn hay đã mất
Sao anh hình dung như có vết thương
Đang loang ra trong vũng nước vô thường
Truyền tín hiệu đến ngậm ngùi vô tận
Anh có nghe chuyện đời em lận đận
Những chuyến đi buôn những chuyến xe đò
Tiếng nói sau lưng lời chua chát nhỏ to
Dòng lệ em khô nhưng vẫn là dòng lệ mặn
Đã qua chưa ôi cái thời đăng đẳng
Đứng bên kia sông cũng ngó thấy điêu tàn
Băng giá chuyển mình băng giá mau tan
Tiếc câu thơ anh không đủ làm cho đời em ấm cúng
Tiếc loài người bày ra xích xiềng huyễn mộng
Đến nỗi quên mình là hạt giống vô biên
Câu chuyện tình như ngọn gió miên miên
Thổi ấm Kinh Thi thổi lạnh hồn Kinh Dịch

NGUYỄN BẮC SƠN

ĐỖ HỒNG NGỌC ** chân không


 Kết quả hình ảnh cho tà dôn phan thiết

 Gửi Nguyễn Bắc Sơn

Thơ ngươi hào khí ngất trời
Hơi men ngất đất hơi người ngất ngây
Từng phen ta đọc mà cay
Thương người thơ sống một đời cực Đông
Một gùi đầy ắp chân không
Lênh đênh xuống núi giữa mênh mông người…


 Đỗ Hồng Ngọc

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

TRẦN VẤN LỆ ** Vĩnh Biệt Nguyễn Bắc Sơn


Mỗi lần qua Tà Dôn tôi nhớ Nguyễn Bắc Sơn.  Bây giờ Sơn không còn, Tà Dôn còn sừng sững…



Coi như ngày gió lộng, Nguyễn Bắc Sơn ra đi, chỉ thấy bụi bay về dài theo quốc lộ một…



Tà Dôn vẫn còn sót những đám mây ngày xưa, hồi đó Sơn làm thơ gửi cho tôi, Thiện Giáo…




Năm sáu tám (1968) rào rạo tiếng cuống rạ cuối mùa. Tôi đọc những bài thơ, âm thầm rồi xếp cất…



Thơ của Sơn hay thật…nhưng mà như lạc loài, tội nghiệp những người trai hành quân, vào động đĩ…



Năm bảy hai (1972) có thấy tập thơ Sơn ra đời (*), tôi có cuộc chuyển dời:  về trường xưa lớp cũ…



Cuối cuộc đời quân ngũ, Sơn và tôi xa nhau, đến khi vào Sông Mao, hỏi thăm Sơn, không thấy…



Tôi nghĩ Sơn đã chạy về cõi nào thật xa.  Thôi, trong cõi ta bà, đứa nào giữ hồn nấy…



Đỉnh Tà Dôn, núi ấy, mỗi lần tôi đi qua kiếm đường ra biển xa, nhớ Sơn, không đứng lại…



Tôi đi và đi mãi, mới nghe tin, tin buồn:  Sơn đã lìa cõi dương, Sơn ngàn Thu yên ngủ…



Từng câu thơ, những dấu chấm chấm…tôi chào Sơn.  Nếu còn ngang Tà Dôn, tôi chào Sơn như vậy…

Trần Vấn Lệ

(*) Tôi chưa hề gặp Nguyễn Bắc Sơn lần nào trong các năm 1967, 68, 69; lúc đó tôi đóng quân ở Thiện Giáo, mật khu Tam Giác, Nguyễn Bắc Sơn thuộc Sư Đoàn 23, ban Tiếp Liệu, căn cứ chính ở Sông Mao, hậu cứ ở đồn Trinh Tường (Phan Thiết).  Sơn chơi thân với em rễ tôi, Phạm Thụy Cầu, làm việc ở Phòng I Tiểu Khu Bình Thuận.  Hễ về Phan Thiết công tác thì Sơn hay ghé nhà tôi ở chơi với em tôi, tôi không có dịp nào về phép để gặp Sơn dù có cả tháng tôi nằm ở Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch.  Năm 1972, Sơn gửi lên Đà Lạt tặng tôi tập thơ đầu tay, Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi, tôi đọc mà buồn buồn, nhiều người như Doãn Quốc Sỉ, Võ Phiến, Chu Tử…“ca ngợi” Sơn, tôi hồi âm cảm ơn và cũng khen cho phải đạo.  Khi tôi đi Cải Tạo, hơn một năm đầu ở trại Sông Mao, trại G 3, Tổng Trại Tù Binh 8, hỏi thăm Sơn không thấy…vì Sơn không thuộc diện phải đổi đời.  Tôi nhớ Sơn nhiều lắm qua những địa danh Sơn hay nhắc trong thơ, đại đội 2/300 của tôi từng đóng đồn Sara dưới chân núi Tà Dôn, bị xóa sổ vì thất thủ năm 1967 khi tôi chưa đáo nhiệm.  Đại Đội tôi thường phối hợp hành quân với ĐĐ 2/754 đóng ở Nora, cũng dưới chân núi Tà Dôn.  Đại Đội tôi cũng có khi phối hợp với ĐĐ 2/442 đóng ở Kim Ngọc, gần Sara.  Trên đường công tác của Sơn thì hoặc bằng trực thăng băng qua đỉnh Tà Dôn hoặc bằng ghe đi dọc bờ biển ra Phan Rí Cửa (nhiều năm trước 30 – 4 – 1975, con đường Quốc Lộ I bị cắt).  Núi Tà Dôn ở phía Bắc Phan Thiết, phía Nam có núi Tà Cú, năm 1955 Tổng Thống Ngô Đình Diệm (từng làm Tuần Vũ Bình Thuận thời Pháp Thuộc) quyết định cắt tỉnh Bình Thuận ra làm hai, phần có núi Tà Dôn là Bình Thuận, phần có núi Tà Cú là Bình Tuy, nghe nói tại Tổng Thống Diệm không thích một vùng đất có hai ngọn núi Tà.  Từ năm 1980, em rễ tôi, Phạm Thụy Cầu nằm một chỗ sau tai nạn lao động, ở Đà Lạt, Sơn có hỏi thăm…Sơn mất ngày 4 tháng 8 năm 2015 tại Phan Thiết, tôi thấy có nhiều người phân ưu, tôi thì chỉ có bài thơ Vĩnh Biệt Nguyễn Bắc Sơn, gói ghém một chút tình xưa dù chưa hề giáp mặt.

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

HẢI PHƯƠNG ** Lục bát hậu chăn trâu ở Hoàng Liên Sơn


1.


Biển khoả thân nắng

sớm mai

ta sơ sinh gió

thổi dài mái lưng.


Em tươi rói biển

thơm lừng

ta linh hồn sợi

dây thừng

bán khai.



2.


Em nằm

lục địa trùng tu

ngực cời

mông độn

biên khu tăng cường.


Em bày thế trận

điên cuồng

mưa sa trên núi

ngọn nguồn biển xanh.



3.


Em nằm trên cỏ

hát chơi

vành môi thiên cổ

ngậm lời nguyên ngôn.


Đêm khuya ngát nguyệt

bãi cồn

tóc tươi rói gió

lay hồn cỏ lau.


Cơ đồ tái

ngộ biển dâu

mưa phai phế tích

nắng màu phiêu du.


Em nằm

lá hát vàng thu

nguồn cơn háo hức

biển mù

mịt cơn.



4.


Em nằm

lục địa phân vân

vòng eo

khép lại trời gần đất

nghiêng

ngực trần ra quẻ

sấm rền

hư vô trụi lá cành mềm vong thân

đường sinh tử dưới khe mòn

chân dài bát nhã

càn khôn dậy thì.


Mùa xuân sắm sửa

ra đi

đỏng đảnh áo mặc nhiều khi quên cài

ý hỏi tóc xoã lai rai

nẻo về thế sự tròn vai phố phường.



5.

Tặng Trương Vũ


Khoả thân em

biển cuồng lưu

vọng âm trên núi

sương mù dưới khe.

Khoả thân em

bước chân nghe

lao xao thuở ấy

lá hè rụng rơi.

khoả thân em

gió lên khơi

mưa dầm phế tích

đêm cời trăng

xanh.


Sắc màu em

điệu vô thanh

ngày sau

vỗ nhịp dạ hành

khúc xưa.

TRẦN VẤN LỆ ** Hình Như Tôi Mơ Tôi Mơ Màng

Không nghe chim hót, chuyện gì đây?  Buổi sáng hôm nay chẳng phải ngày?  Nắng úa vàng hay cây úa lá?  Mùa Thu mà sao trời không mây?



Có chắc mùa Thu vào tháng Tám?  Nắng chiếu hành lang, hoa chẳng mừng.  Chiếc lá đêm rơi nằm dưới đất, khiêm nhường chút gió thoảng mênh mông…




Chim xa thành phố từ bao giờ hỡi những lòng xe bus chở thơ, chở bụi đi đâu, đường vắng ngắt, tóc ai vàng nắng rọi như tơ…



Chim không còn đậu bờ vai mộng, trời đất hoang vu bỗng nghẹn ngào.  Tôi nói với ai lời ướt đẵm, với bây giờ hay với mai sau?



…với mái tóc vàng con suối ngọc, với đường dài có lắm ngã tư, với những ngọn đèn xanh đỏ chớp, nắng rớt kìa, ôi những giọt mưa!



Hình như tôi mơ tôi mơ màng.  Hình như hồn tôi đang lang thang.  Đây chẳng Thiên Đường không Địa Ngục, không bờ sông nhìn ai sang ngang…



Không cả vườn cau xanh bóng Ngoại, không Huế sao lòng cứ nhớ nhung?  Nhớ tiếng họa mi vườn Ngự Uyễn, nhớ ai thời thấp thoáng Hoàng Cung…



Em ơi em Nữ Hoàng của anh!  Em là mùa Xuân, Xuân mãi xanh!  Một chiếc lá vàng Thu thấp thoáng, ngày ôi buồn biết mấy bình minh…

Trần Vấn Lệ

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

NGUYỄN LỆ UYÊN * Nguyễn Bắc Sơn và tiếng thơ bi hài


clip_image003



"Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau" (NBS)




Khoảng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, giữa những người làm thơ tự do và “làm dáng” theo thơ tự do, những người làm thơ tranh đấu theo kiểu “hiện thực nửa mùa, khẩu hiệu”, bỗng xuất hiện lẻ loi một khuôn mặt mới toanh mang phong cách của “trường phái” thơ ngang tàng, khẩu khí, khinh khoái đúng với chất hiện thực phơi bày nhan nhản trong cuộc sống khốn đốn thời bấy giờ, rất không giống ai.

Đó là trường hợp của Nguyễn Bắc Sơn, người thọc chân vào làng thơ như một kẻ “du côn chữ nghĩa”, một hành giả rong chơi dọc ngang trong trận đồ bát quái giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa hạnh phúc và khổ đau, giữa đạo và phi đạo, giữa tốt và xấu; để cuối cùng nghêu ngao một câu hát rong: kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng / hoặc nhà thơ theo khí hậu từng mùa. Sự thọc chân bất ngờ của Sơn, ví von một cách trần trụi, cũng tỉ như bứt sợi lông gà ngoáy vào lỗ tai kẻ khác, gây cảm giác nhột nhạt vừa khó chịu, vừa thích thú.

27 bài thơ phơi trải trong Chiến tranh Việt Nam & tôi đã được đón nhận (thời đó) bằng những thái độ khác nhau: Các nhà làm chính trị và đạo đức giả cầy gọi thơ Nguyễn Bắc Sơn là “con sâu bệnh hoạn”, là “phản chiến, khiếp nhược”, các em tiểu thư khuê các vừa nhắm mắt vừa đọc, vừa thè lưỡi rụt đầu vừa rung bần bật những khoái cảm sũng nước. Và chỉ có những kẻ bị xô đẩy vào chốn “du côn, du đãng” mới đồng cảm được tiếng thơ bi hài lồng lộng bão cát, chói chang lửa đỏ và dầm dề mưa lũ. Sự đồng cảm đồng điệu đồng tình của những con người cùng một thế hệ đang phơi lưng nướng trui trên lò than hồng rực đỏ, khét lẹt ngoài chiến trường, để tập làm Thảo Khấu:
Vì sao ta đến đây hò hét
Học trò bẻ bút tập mang gươm
Tập uống máu người thay uống nước
Múa may theo lịch sử điên cuồng.
Những tra khảo tâm óc dường như chưa hề có câu trả lời, không thể trả lời nổi, để cuối cùng phó mặc mọi sự đẩy đưa. Mặc kệ tất. Thằng nào giương cao ngọn cờ cứ giương, đứa nào hò hét cứ hò hét, cứ xông tới và trốn chạy, xông tới và ngã xuống, chiến thắng và bại trận. Tất cả đan chéo vào nhau như đường gươm ma thuật của phái Bạch Mi. Riêng ta bỏ tuốt cái phía trước và phía sau, bỏ cái quyền uy và khuất phục để làm một kẻ lãng đãng khói sương trong khói lửa mịt mùng kinh lợm:
Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic
Kẻ thù ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo

clip_image005
Không lạ, không xa mà cũng chẳng nhọc nhằn lý giải theo phép biện chứng khi mà guồng máy xay thịt cứ nghiền nát từng cánh tay, bàn chân, thân thể con người. Những công dân, những đồng bào, họ không bao giờ muốn thân xác mình biến thành món thịt băm; họ đâu muốn bắn giết nhau. Chỉ có các ngài chính trị lợi dụng sự cả tin, phều ra chút nước bọt để tranh giành quyền lợi cá nhân theo mộng tranh bá đồ vương, nên “lúc này đây ta không thèm đánh giặc”. Ta “không thèm đánh giặc” bởi trong đầu óc ta luôn nghĩ:
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Đến nỗi nhà văn Võ Phiến phải thốt lên: “Bên kia là: những đứa điên say”; bên này là “ta” coi đánh giặc như trò chơi. Hoàn cảnh phải chăng đã xui có cái bất cần này để quân bình lại cái quá đáng kia. Óc hài hước bên này để hiểu chính óc mộng tưởng bên kia? (Võ Phiến, Chúng ta qua cách viết, NXB Giao Điểm, SG 1972)

Từ một thái độ rạch ròi như vậy, trong cuộc hành quân, dưới con mắt nhà thơ “du côn” là chuyện vặt, không phải của bản thân mình nên kêu các “ngài du kích” đứng xê ra, đừng có bắn nheo để ta “dừng quân nơi đây nói chuyện tiếu lâm chơi”.
Cũng vì chiến tranh là thứ “tai trời ách nước”, thân phận ta như cánh bèo dạt lên bãi bùn khô thì sống chết cũng là chuyện vặt:
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui.
Chất bi thảm trong Mật Khu Lê Hồng Phong một lần nữa lật tung ra bề trái thúi hoắc của câu nói thời thượng từ cửa miệng các nhà đạo đức giả, trong hoàn cảnh này như cái tát của một cô gái điếm vào mặt những tên chính trị ma đầu, ma cô!
Người sống sót nâng ly mời kẻ khuất
Lại gần đây trên bãi cỏ bờ sông
Soi mặt mình trong dòng nước xanh trong
Để nhìn thấy hình bản lai diện mục
Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt
Xin giã từ đời vũ khí, huy chương
Xin trở về như một kẻ hoàn lương
Xin vứt hết xin bắt đầu lại hết
(Tiệc tẩy trần của người sống sót)
Nói theo cách nói của Cao Huy Khanh lúc chúng tôi nằm chung ĐĐ 31 trường Võ Bị Thủ Đức khóa 6/70, thì cuộc chiến tranh này dưới con mắt của Nguyễn Bắc Sơn là “cuộc nhàn du vào con đường huyệt tận, là sự nghêu ngao trên chiếc giá treo cổ hận thừ”, mà Sơn thì như một con sóc trước bờ vực sống và chết, luôn cười ha hả, sướng điên một nỗi buồn tênh vô cùng thênh thang, ngan ngát những hương thơm của hoa cỏ, nắng ấm, suối trong… và chung quanh là mã tấu, lưỡi lê, bom đạn!
Có lẽ vì thế mà phong thái khinh bạc cứ mỗi lúc mỗi đậm đà hương bưởi hương cau:
Khi tao đi lấy khẩu phần
Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan
Mùa này gió bãi mưa ngàn
Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà
Những thằng lính trẻ hào hoa
Lưu đày trong cõi rừng già núi xanh
Lao mình vào cuộc phân tranh
Tiếc thương xương máu sinh thành được ư
(Một tiếng đồng hồ trước khi lên đường hành quân)
Suốt dọc Chiến tranh Việt Nam & tôi, tôi cố tìm chất anh hùng ca kiểu Homère với những Odyssée, Iliad … nhưng chỉ toàn những bi hài đan xen vào nhau bằng những tiếng cười vui cứa nát trái tim:
Mày gửi một chân ngoài trận mạc
Mang về cho mẹ một bàn chân
Mẹ già khóc đến mù hai mắt
Đời tàn trong lứa tuổi thanh xuân
(Căn bệnh thời chiến)
Cỗ máy băm thịt khổng lồ kia đã biến đổi nhân cách con người một cách tàn tệ nhất, để mọi người ai cũng có thể nhận ra, nhưng Nguyễn Bắc Sơn hơn mọi người là dám thốt thành lời, mà lại là lời thơ khôi hài như một lưỡi dao nhọn hoắt:
Ngày trước mày hiền như cục đất
Giờ mở miệng ra là chửi tục
Hà hà ra thế con nhà binh
Ngôn ngữ thơm tho như mùi cứt
Ngày trước mày định đi tu tiên
Giờ lính tu bi-đông ừng ực
[...]
Giờ tối nằm mơ chỉ thấy tiền
Nhân nghĩa gì gì quên tuốt luốt
(Bài hát khổ nhục)
Con người bước vào rồi may mắn bước ra khỏi guồng máy chiến tranh cuối cùng chỉ là “như rượu còn ly cặn”, là “kiếp ngựa què”.
Trong Chiến tranh Việt Nam & tôi, còn có một Nguyễn Bắc Sơn thứ hai ngoài chất du đãng phóng khoáng, ngoài chất du côn khinh bạc, ngoài chất du kề bi hài. Đó là một Nguyễn Bắc Sơn từng trải, bay bổng lên cao và chui sâu dưới tối, căng mắt, căng tai mở toạc trái tim và tâm hồn để đắm chìm trong dòng triết học phương Đông trầm mặc, như chính anh đã tự vẽ chân dung mình:
Trên trái đất có rừng già núi non cùng biển sông
Trong Nguyễn Bắc Sơn có kẻ làm thơ
Kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng
Hoặc nhà thơ theo khí hậu từng mùa
(Chân dung Nguyễn Bắc Sơn)
Anh đứng giữa hai thái cực cuộc đời, chiêm vọng nó, hít thở, hoà tan như thể một trưa hè tắm sông và khi bước lên bờ, anh chính là Nguyễn Bắc Sơn chứ không là con người nào khác, mới toanh, mát mẻ: 
Trong đáy giếng nhà tôi
Sống một con cá trào [tràu?] già
Những đêm trăng
Dường như y không sao ngủ được
Y bì bõm
Chơi đùa cùng ánh trăng, khí hàn và nước
Tôi ngồi bên thành giếng
Im lìm chiêm ngưỡng y.
Nói về Nguyễn Bắc Sơn và thơ Nguyễn Bắc Sơn thì còn muôn trùng điều để nói, để chọc xẻ và ngắm nhìn, để phanh thây và quàng vai. Công việc đó xin mượn lời các nhà văn đã từng nói, viết về anh:
“Phong thái ngang tàng mà khinh khoái, chết thì thôi, còn sống thì còn vui. Chẳng những trước khi đụng trận một ngày, mà trước khi hành quân một giờ, Nguyễn Bắc Sơn cũng thản nhiên “khơi khơi chấp hết” [...] Chiến tranh đối với họ đã trở thành chuyện cơm bữa, không còn lý do gì để đại ngôn, lớn lối nữa”. (Võ Phiến, Bách Khoa số xuân Canh Tuất)
“… Đọc thơ Nguyễn Bắc Sơn tôi có liên tưởng đến tiếng thơ Quang Dũng trong bài “Tây Tiến”, chỉ khác thơ Quang Dũng là kết tinh của một hoàn cảnh bi hùng, còn thơ Nguyễn Bắc Sơn là kết tinh một hoàn cảnh bi hài”. (Doãn Quốc Sỹ, Văn số 185 ngày 1.9. 1971)
“… Có cái ngang tàng đượm màu sắc Lão Trang, đánh giặc không cần lý tưởng mà vẫn đánh, coi cuộc chiến như trò chơi, thương xót kẻ thù như ruột thịt”. (Chu Tử, tuần báo Đời số 9 tháng 11.1969) 
“Mấy bài viết về chiến tranh có cái hào sảng, bi đát của tướng Thần Quang Dũng. Bài “Chân dung Nguyễn Bắc Sơn” thật hay. Đọc được một bài thơ hay thấy sung sướng cả ngày”. (Viên Linh, thư riêng ngày 27.11.1969)

Các bạn độc giả không tin ư? Cứ bỏ tiền ra mua tập Chiến tranh Việt Nam & tôi (do hai bạn văn Phạm Văn Nhàn và Trần Hoài Thư sắp xếp, tái bản). Nói như Viên Linh thì với 27 bài thơ của Sơn các bạn sẽ sướng cả tháng, cả năm. Nếu chưa tin, tôi chép lại nguyên văn mấy dòng trên đầu sách để giới thiệu tập thơ này (do Ngô Nguyên Nghiễm phóng bút) khi xuất bản lần đầu 1972:“Tập thơ hát lên tiếng hát lồng lộng bi tráng của một người tham dự chiến tranh Việt Nam, một thiền sư bụi đời, một gã du đãng trầm mặc.
Những bài thơ xa như tiền chiến, xưa như Đường thi, nhưng kỳ lạ thay, mới tinh và gần gũi như sáng hôm nay…”.
Một đoạn phỏng vấn giữa Nguyễn Lệ Uyên và nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn:
Ng: Ông làm thơ từ hồi vào vậy?
NBS: Tôi không làm thơ. Tôi chỉ gồng gánh thơ đi chơi.
Ng: Gánh thơ vào chiến trường, hậu cứ, nhà thổ…?
NBS: Chỗ nào tới được thì ta cứ đi.
Ng: Ông gánh cả rượu đế Nùng và mấy chục chai bia theo khi hành quân?
NBS: Bốn chục chai đồ bỏ.
Ng: Gan bẩm vậy sao khi “Qua cầu sông Luỹ nhìn quanh quất / Nước đỏ cầu đen chợt nhớ nhà“?
NBS: Ồ cũng lạ thiệt. Đôi khi tôi cũng tự hỏi: “Sắt đá ồ sao lại nhớ nhà”. Cái đó mới kỳ.
Ng: Không kỳ sao được khi “Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng / Còn ngại hành quân động Thái An“? Động Thái An nay còn không?
NBS: Còn mất, mất còn; có không, không có.
Ng: Thật tội nghiệp cho các cô gái ở bốn quận miền Bắc, nơi “có nhiều nhà điếm và nhiều trại lính”.
NBS: Bởi vậy nên tôi phải “Gửi tâm hồn vào những đám mây bay / Đi tranh luận cùng thánh hiền thiên cổ”.
Ng: Đó là chuyện hồi xưa, cũ mèm, trên ba mươi năm rồi. Còn giờ thì sao?
NBS: Giờ?
Ng: Ừ, giờ?
NBS: Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc
Vô tình ngang một quán cà phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về.
Ng: Bấy nhiêu đó?
NBS: Ông móc trong đáy thùng thử coi.
Ng: Tôi lượm quanh hồ Than Thở và hồ Xuân Hương, để tôi đọc cho ông nghe:

Về đâu đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba ngàn thế giới cũng chưa to

Tháng Giêng ngồi quán, quán thu phong
Gió nhạn môn quan thổi chạnh lòng
Chuyện cũ nghe đau lòng tứ xứ
Thương Kiều Phong, nhớ tiếc Kiều Phong

Tháng Giêng có kẻ đi tìm cúc
Nhưng cõi đời đâu có Cúc Hoa
Thấy đám phù bình trên mặt nước
Biết mình đi lộn nẻo bao la

Lạng quạng ra bờ sông ngó nước
Trên bờ dưới nước gặp ông câu
Ta câu con đú ngươi con đẻn
Chung một tâm hồn tất gặp nhau

Ghé thăm ông bạn trồng cây thuốc
Mời nhau một chén rượu trường sinh
Bát cơm tân khổ trong tù ngục
Câu chuyện năm năm khiến giật mình

Khi gã Yêu Ly đâm Khánh Kỵ
Là đâm trúng phải trái tim mình
Sông Mường Mán không dung hào kiệt
Muôn đời bóng núi đứng chông chênh

Nằm ngủ dưới cây nghìn cánh hạc
Dường như mặt đất tiết mùi hương
Ngủ thẳng một lèo chiều mới dậy
Dường như mình cũng mộng hoàn lương

Dường như đứa trẻ nghìn năm trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua

NBS: Mẹ kiếp, thơ thằng nào mà thơm như cứt!?
Ng: Hình như đó là thơ của Nguyễn Bắc Sơn.
NBS: Hắn là thằng nào vậy?
Ng: Nghe nói hắn là một tên bụi đời thượng hạng ngoại hạng.
NBS: Gã láo thật.
Ng: Vâng, láo. Ông còn gì để nói với độc giả Thư Quán Bản Thảo không?
NBS: Ông nhắn giùm các cô gái nhà lành, những thằng làm chính trị, những thằng đạo đức giả chớ có đọc loại thơ trong thúng mủng cảo nia trên đường bụi bặm.
Ng: Cảm ơn ông.
NBS: Không cần!



Nguyễn Lệ Uyên
(tháng 6/05)