Hiển thị các bài đăng có nhãn tác giả - tác phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tác giả - tác phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

TRẦN TUẤN KIỆT * Nhận định về thơ Tuyết Linh với gần nửa thế kỷ làm thơ


Giới văn nghệ sĩ ở nước ta vì hoàn cảnh lịch sử luôn biến động và thay đổi vô cùng lớn lao nên có những đời sống văn hóa đầy nhiễu loạn và ảnh hưởng lớn đến đời sống cá nhân của nhiều người. Có những công việc vừa thực hiện đã thay đổi nhất là ở thế hệ 20 thanh niên dở dang học hành hay công việc để vát súng xung trận chống giặc Bắc. Trong hệ lụy chiến tranh đó cái sống thác loạn và cái chết bất tử luôn gây tác động tinh thần cho giới trẻ miền Nam tự do rất mạnh mẽ.

Văn học nghệ thuật của giới trí thức trẻ miền Nam sau thời nhà Ngô, chịu ảnh hưởng mạnh từ văn hóa Âu Mỹ, tinh thần hiện sinh lên thật cao cho nên mới có hiện tượng yêu cuồng sống vội! Còn ở miền Bắc văn hóa chịu xiềng xích nô lệ hóa con người theo chủ nghĩa Karl Marx Lenine mãi tận ngày nay. Cuộc chiến tranh Nam Bắc là nội chiến mặc dầu đều chịu sự cương tỏa của các nước lớn từ Liên Xô và trong Nam chiến tranh chống Cộng từ Mỹ. Người quốc gia nghèo nàn và lạc hậu luôn như cây sậy yếu mềm ngã theo chiều gió loạn. Trong hoàn cảnh đó Tuyết Linh ra đời trong một gia đình giàu có đầy quyền lực. Cô bắt đầu làm thơ lúc 13,14 của tuổi học trò, và đăng thơ trên các báo ở Sài gòn và trên các tuyển tập như Hoa Mười Phương, cùng nổi tiếng trong giới nữ sinh, phụ nữ đương thời như Minh Đức Hoài Trinh, Ngọc Hân, Thu Nhi, Phương Đài, Tuệ Mai ở nhóm Tao Đàn Bạch Nga, như Nhã Ca ở Ngàn Khơi của Trần Dạ Từ Nguyễn Hữu Đông, như Trùng Dương và các nhà văn nữ giới khác. Nhưng tiếng thơ của Tuyết Linh có một điểm khác lạ, có cái gì tự tin và gần với các nhà văn nhà thơ của Âu Mỹ. Ở lứa tuổi đó Tuyết Linh đã viết những câu thơ như sau:

Chậm chậm chiều ơi về chi vội vã
Ta cô đơn chiều ghé xuống đây chơi
Lời gió dịu e làm ta sa ngã
Chiều ơi chiều chậm chậm chiều ơi

Qua gần nửa thế kỷ tôi vẫn còn nhớ những vần thơ Tuyết Linh mà tôi sưu tầm được để đưa vào cuốn Thi Ca Việt Nam Hiện Đại. Điểm lạ và đặc biệt khác với phụ nữ đương thời thường tự xưng là em một cách yếu mềm thì Tuyết Linh đã xưng thẳng trong thơ là Ta, Ta cô đơn như sự cô đơn lớn lao của Huy Cận xưa kia hay “Ta không còn cô độc” của một Thanh Tầm Tuyền nhà thơ hiện sinh trong sáng tạo.

Ta cô đơn chiều ghé xuống đây chơi
Lời gió dịu e làm Ta sa ngã
Chiều ơi chiều chậm chậm chiều ơi!

Lời thơ đầy sinh khí và độc lập dù nó ở trong lớp tuổi học trò, thơ Tuyết Linh đăng báo thời đó thường được trả nhuận bút 150 đồng, trong khi đó TTK chỉ được trả mỗi bài thơ là 100 đồng. Được trả như thế nên Viên Linh đã nói đùa với Tuyết Linh, cô là cao thủ rồi đó. Có nhiều người thời đó say mê vẻ đẹp duyên dáng của Tuyết Linh cũng như những vần thơ đẹp huyền ảo của cô. Người theo đuổi say mê nhất có lẽ là Bùi Giáng, đến nay gần nửa thế kỷ thư và thơ của Bùi Giáng tặng kể cả các trang thư viết tay của ông, Tuyết Linh vẫn còn giữ và coi như vật quí nhất trong đời mình. Vậy đó, bỗng nhiên con chim Hồng, lời hót con Họa mi biến mất! Giới văn nghệ đồn đại Tuyết Linh có lẽ đã lấy phó Đô Đốc Hải Quân là bạn thơ của nàng. Nhưng ngờ đâu nàng lại lên xe hoa về nhà chồng, với người chồng có địa vị trong Toà Án Mặt Trận lúc bấy giờ.

Cô bắt đầu cuộc sống của một mệnh phụ phu nhân trong cảnh giàu sang lên xe xuống ngựa. Từ đó, cô buông bút và cách biệt hẳn với bè bạn văn chương, xa rời chữ nghĩa vì bị câu thúc kềm chế của gia đình chồng. Cô ép mình yên phận và uốn mình như rong rêu lượn theo dòng nước. Cho đến khi lịch sử đổi thay năm 75, chồng Tuyết Linh sang Mỹ theo diện HO, Tuyết Linh theo chồng qua Mỹ, đi học trở lại và làm việc. Một cuộc sống khá tự do và hình bóng xinh đẹp của người vợ như là nỗi ám ảnh của người chồng luôn sợ sự giao du thân mật với kẻ khác. Tuyết Linh trong thư gởi TTK đã nói nhiều, chồng nàng luôn ghen tuông bóng gió nhưng cả hai vẫn sống chung, lo dựng vợ gã chồng cho các con xong rồi họ mới chia tay một cách êm thắm. Tuyết Linh về ở với vợ chồng cô con gái út cho đến nay. Các con cháu đều thành đạt, đời sống Tuyết Linh khá giả và thường thì bà lấy du lịch khắp nơi làm nguồn vui sống. Ở cái tuổi gần “Thất thập cổ lai hy” Tuyết Linh bắt đầu làm thơ nhiều. Bây giờ thì tiếng thơ của con họa mi ngày nào đã ngân cao vút, hồn thơ bao la, tinh thần sảng khoái mở rộng với vũ trụ vạn vật, Tuyết Linh đã suy niệm cuộc đời qua cái nhìn về bản thân mình như sau:

Tìm tôi từ thấp lên cao
Từ trên xuống dưới chỗ nào là tôi?
Bao la là đất là trời
Phận tôi cát bụi ngậm ngùi xưa sau!

Cái nhìn chân tướng sự vật, chân tướng cuộc đời mình thật bi đát, phải không?
Tuy nhiên chỉ có thể là cái nhìn trong một thoáng về hình hài cát bụi, tinh thần của chủ nghĩa hư vô siêu thực Âu Châu, bà còn viết những vần thơ tuyệt vời kỳ ảo khác. Ta hãy đọc bà trong bài Ru Anh:

Ngủ đi anh, ngủ đi anh
Ngoài kia nắng dội vàng hanh nụ tình
Em còn hạt lệ long lanh
Ru anh có đủ những bình minh sau?

….

Rồi tiếng ru huyền diệu có những hạt lệ long lanh đó kéo dài cho đến câu thơ cuối:

Đêm tàn còn những bơ vơ
Lòng em chợt lạ đôi bờ nhớ quên!


Tiếng thơ như vọng vào thời gian dội lại trong cõi viễn mơ trầm tư của cuộc đời mình, ở đó đôi bờ âm hay dương, nỗi nhớ hay quên, thực và mơ, mơ và thực như cánh bướm của Trang Chu trong mơ hóa bướm bay đi ngao du giữa cuộc đời này. Sự hư ảo huyền diệu chen lấn hư hư thực thực khiến cho người đọc thơ Tuyết Linh cũng rơi vào một trạng thái u yêu huyền ảo đến vô cùng! Đó là lúc mà cái trực nghiệm lại bản thân mình giữa sinh tử phù du đã đến gần với triết lý của Trang Chu, tư tưởng của Tuyết Linh không dừng ở tư duy vô thường của Phật hay Hư Vô của triết lý Âu Châu hiện đại, càng viết càng đưa tiếng thơ ra đời càng đi sâu vào một thế giới tâm linh hư ảo mà những tâm hồn chân thực khó mà lãnh hội được.

Bây giờ Bùi Giáng đã đi xa. Nhớ ngày nào Bùi Giáng đem các bài thơ của Tuyết Linh đến cho TTK đọc và từ đó TTK đã say mê thơ của bà, vừa được chiêm ngưỡng cái hình bóng người đẹp qua bức ảnh chụp chân dung, mà BG đã đặt cho bức ảnh cái tên là Marylin Monroe. Đó là hình ảnh vô cùng huyền ảo của Tuyết Linh.

Thơ Tuyết Linh được đưa vào THI CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI khi mà nàng thơ áo tím đã đi lấy chồng được hai năm. Bốn mươi bảy năm sau, Tuyết Linh tìm được địa chỉ và gởi thêm những giòng thơ mới lạ, tiếng thơ độc lập và kì bí cho TTK. TTK đã gom lại làm một tập bản thảo, và nhắn nhủ Tuyết Linh không nên để cho độc giả, như TTK, “tiếc chết” vì sự tuyệt tích của nó, và không biết có phải lời đề nghị của TTK có được chút ảnh hưởng gì không, mà bây giờ, đứa con tinh thần “Nơi Đâu Nghìn Trùng” đang chuẩn bị góp thêm sắc hương vào vườn hoa văn học VN.

Ngoài ra bà đã đăng thơ ở nhiều báo như Khởi Hành và Thư Quán Bản Thảo gần như là một cuộc phục sinh về thơ vậy. Tập thơ mới soạn sắp xuất bản bà gởi cho TTK khá nhiều bài hay lạ, tinh thần khoái hoạt, đôi khi như hí lộng vào tư tưởng triết học cổ kim Đông Tây. Con người đó đã trầm tư nhiều qua hằng thế kỷ nên tiếng thơ đó cũng vậy, bà bắt đầu lập ngôn bằng thơ của mình, đầu tiên là các nhà văn nghệ trước 75 ai cũng vui lòng đón nhận cái tinh tế của một tâm hồn thật lớn lao và không kém hoa mộng đó. Thơ của Tuyết Linh chứa đựng tất cả nét suy tư hoài niệm của hằng thế kỷ suy niệm của các triết nhân nghệ sĩ trong thơ đầy lãng mạn, tinh anh trong thi ngữ gieo vần cho ta thỉnh thoảng gặp được những kỳ tứ đặc sắc vô song của một thi tài nữ ViệtNam trong thế kỷ này vậy.

Điều đáng trân trọng là bà không hề chịu lôi cuốn vào các giòng thơ mới xuất hiện gần đây ở Âu Mỹ, thơ bà gần với tư tưởng siêu hình của Đông Phương huyền bí hơn, trầm tư của giòng thi ca tư tưởng hiện đại hơn, những nhận thức về cuộc đời, suy tư về kiếp người, ý tưởng về tình yêu hạnh phúc, về hư vô và vĩnh cửu đôi lúc lại tự đùa cợt ví von với cỏ cây sự vật, với cái có cái không, cái cô đơn thao thiết về cuộc tình sầu qua sự biến đổi của lòng người, của năm tháng và màu sắc của vạn hữu.

Dường như Tuyết Linh cũng như Bùi Giáng đã để trái tim say yêu, say đạo lý và say thơ vào lòng bàn tay của vạn vật. Bà không thán oán điêu linh trong các chuyện bạc tình bạc hạnh. Kiếp người như một loài hoa đẹp sinh ra là để chờ đón những mưa gió phũ phàng những lụy tàn với thời gian để về cùng núi xa nơi vu sơn vu giáp nào của nàng tiên thơ của đời.

“Nơi Đâu Nghìn Trùng” là thi phẩm sau này của Tuyết Linh mà nội dung hình ảnh tươi đẹp với những nỗi đời xót xa cay đắng chỉ là cái chuyện thừa, tự nhiên của lòng người và cuộc đời mà thôi, mà ở trong đó có biết bao ân tình, biết bao câu chuyện của một người từng trải đã chịu nhiều hoang phế như bức thành cổ của đời.

Lời thơ tự nhiên ý trác việt trong thơ hàm ngụ những hình ảnh Thiên Thu trong từng hạt bụi cuộc đời.
Những hệ lụy và những nỗi đau vô cùng âm thầm đã chôn sâu tự đáy lòng rồi cũng được khơi lên hiện hữu với nhà thơ. Ta cũng có thể gọi đây là loại thi ca tư tưởng của Tuyết Linh mặc dầu nó luôn đậm chất lãng mạn muôn đời của khách tài hoa, nó luôn hiện hữu sống động của khách đa tài bạc mệnh giữa muôn vàn khát vọng.

Tuyết Linh vẫn còn thừa thời gian để sống và làm thơ như để un đúc thêm rộng thêm sâu về cuộc lập ngôn của mình. Tuyết Linh chuẩn bị cho ra thi phẩm của mình sau nửa thế kỷ ngưng hẳn mạch tiết của thơ, giòng thơ nói chung là điệu thơ tình cảm, gợi người ta nhớ đến những lá thư tình những ẩn tình ít nhiều trắc ẩn với người yêu với người cùng song hành với mình qua những cuộc tình đầm ấm nồng nàn cho đến lúc chia tay những cơn đau ngầm, những ngậm ngùi sâu thẳm chung với định mệnh của đời mình. Tiếng thơ đó được tập hợp trong một thi phẩm mới vừa đơn độc vừa u hoài của khách thơ đa tình sầu mộng đó là thi phẩm “Nơi Đâu Nghìn Trùng”. Những người yêu thơ chắc hẳn sẽ phải trân trọng đến giá trị đặc biệt của hồn thơ riêng, một cõi buồn u uẩn của bà, nơi đó tâm tư dường như buông lỏng, thả trôi đi theo áng mây trời, theo thời gian, có thể ta thấy gần với giòng sông vĩnh biệt thuở nào. Tuyết Linh với vốn thơ sung túc tràn trề của mình hầu như bà đã thừa ngôn ngữ để cho tiếng lòng mình bay bổng lên muôn trùng cho đến cõi bờ ngàn xưa mà bà nhắc đến hai chữ xuân thu của đời chiến quốc. Nét hào hoa đậm nhiều hệ lụy của tình trường càng cho người đọc tác phẩm của bà cùng chia sẻ định mệnh với bà tạo ra dư âm trầm buồn sầu mộng như thơ bà, cũng thấy day dứt cõi lòng qua bài thơ “Tôi và Bóng thật ưu tư, thật khắc khoải và cô đơn vô cùng “Xót xa cũng chút hình hài/ Theo cơn gió cuốn lạc loài tử sinh”…hay:

Hai ta chung một lời thề
Đời tôi phận bóng đi về có nhau
Như con nước chảy chân cầu
Loanh quanh lẩn quẩn với màu thời gian…


Những nhà thơ nữ tài hoa cùng chung thế kỷ với bà có lẽ chỉ viết với tinh thần thi ca sâu thẳm đến thế mà thôi. Còn nhiều vần thơ trác tuyệt trích ra đây khiến bài dài lắm để độc giả tự đọc có lẽ hay hơn. Con đường lớn của thi sĩ Việt nhất là những nhà thơ nữ từ Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… đã được nối thêm những bước đi dài của những nhà thơ mới như Tuyết Linh, Nhã Ca , Minh Đức Hoài Trinh, Tuệ Mai Nguyễn Thị Vinh và một nhà thơ tự miền Bắc vào như Ý Nhi tạo ra được những giòng thơ đẹp trong lịch sử thi ca hiện đại. Một nửa thế kỷ trong đời thơ Tuyết Linh đã trôi qua quá nhiều tác động lịch sử, biến đổi lịch sử của đời người nhưng cuộc đời nhà thơ cũng có lúc thăng trầm, và biến động. Lịch sử ấy dường như không chi phối, không ảnh hưởng gì đến giòng thơ An nhiên Như nhiên và Tự Tại ấy!

Với một tinh thần vững vàng và triết lý nhân sinh vươn lên khỏi cái sinh lão bệnh tử tầm thường của cuộc đời, thơ Tuyết Linh vẫn tạo ra một sắc diện thanh kỳ rất mới tinh anh ở từng tứ thơ huyền nhiệm ở nhiều câu hỏi lớn đặt ra trong đời và đôi khi người tự trả lời ỡm ờ với cái vẻ tinh nghịch là lạ của cá tính mình.

Những tư tưởng mênh mông về vũ trụ thiên nhiên hiện ra trong bầu không khí u huyền của các giòng thơ lục bát như một người thả buồm trên dòng thời gian miên viễn mà đôi khi nó rất phiếm hoạt vây quanh mình.

Chúng ta trân trọng chào đón nhà thơ trở lại với nguồn sống tâm linh đầy chất trữ tình mà cũng đầy lẽ dung dị nhân ái đối với đời.



TRẦN  TUẤN  KIỆT


Nơi Ðâu Nghìn Trùng

Tuyển tập thi ca của nữ sĩ Tuyết Linh 

do Ðất Mới xuất bản năm 2015.
Sách dày 180 trang do Tâm Hữu trình bày. 

 Bìa và phụ bản màu của Đinh Cương, 
Trịnh Cung. Trần Tuấn Kiệt đề tựa.
Bạn đọc yêu thơ muốn có tác phẩm này xin vui lòng 
liên lạc với tác gỉa qua điện thư :

tuyetlinh39@yahoo.com 




Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

NGUYỄN LỆ UYÊN * Nguyễn Bắc Sơn và tiếng thơ bi hài


clip_image003



"Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau" (NBS)




Khoảng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, giữa những người làm thơ tự do và “làm dáng” theo thơ tự do, những người làm thơ tranh đấu theo kiểu “hiện thực nửa mùa, khẩu hiệu”, bỗng xuất hiện lẻ loi một khuôn mặt mới toanh mang phong cách của “trường phái” thơ ngang tàng, khẩu khí, khinh khoái đúng với chất hiện thực phơi bày nhan nhản trong cuộc sống khốn đốn thời bấy giờ, rất không giống ai.

Đó là trường hợp của Nguyễn Bắc Sơn, người thọc chân vào làng thơ như một kẻ “du côn chữ nghĩa”, một hành giả rong chơi dọc ngang trong trận đồ bát quái giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa hạnh phúc và khổ đau, giữa đạo và phi đạo, giữa tốt và xấu; để cuối cùng nghêu ngao một câu hát rong: kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng / hoặc nhà thơ theo khí hậu từng mùa. Sự thọc chân bất ngờ của Sơn, ví von một cách trần trụi, cũng tỉ như bứt sợi lông gà ngoáy vào lỗ tai kẻ khác, gây cảm giác nhột nhạt vừa khó chịu, vừa thích thú.

27 bài thơ phơi trải trong Chiến tranh Việt Nam & tôi đã được đón nhận (thời đó) bằng những thái độ khác nhau: Các nhà làm chính trị và đạo đức giả cầy gọi thơ Nguyễn Bắc Sơn là “con sâu bệnh hoạn”, là “phản chiến, khiếp nhược”, các em tiểu thư khuê các vừa nhắm mắt vừa đọc, vừa thè lưỡi rụt đầu vừa rung bần bật những khoái cảm sũng nước. Và chỉ có những kẻ bị xô đẩy vào chốn “du côn, du đãng” mới đồng cảm được tiếng thơ bi hài lồng lộng bão cát, chói chang lửa đỏ và dầm dề mưa lũ. Sự đồng cảm đồng điệu đồng tình của những con người cùng một thế hệ đang phơi lưng nướng trui trên lò than hồng rực đỏ, khét lẹt ngoài chiến trường, để tập làm Thảo Khấu:
Vì sao ta đến đây hò hét
Học trò bẻ bút tập mang gươm
Tập uống máu người thay uống nước
Múa may theo lịch sử điên cuồng.
Những tra khảo tâm óc dường như chưa hề có câu trả lời, không thể trả lời nổi, để cuối cùng phó mặc mọi sự đẩy đưa. Mặc kệ tất. Thằng nào giương cao ngọn cờ cứ giương, đứa nào hò hét cứ hò hét, cứ xông tới và trốn chạy, xông tới và ngã xuống, chiến thắng và bại trận. Tất cả đan chéo vào nhau như đường gươm ma thuật của phái Bạch Mi. Riêng ta bỏ tuốt cái phía trước và phía sau, bỏ cái quyền uy và khuất phục để làm một kẻ lãng đãng khói sương trong khói lửa mịt mùng kinh lợm:
Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic
Kẻ thù ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo

clip_image005
Không lạ, không xa mà cũng chẳng nhọc nhằn lý giải theo phép biện chứng khi mà guồng máy xay thịt cứ nghiền nát từng cánh tay, bàn chân, thân thể con người. Những công dân, những đồng bào, họ không bao giờ muốn thân xác mình biến thành món thịt băm; họ đâu muốn bắn giết nhau. Chỉ có các ngài chính trị lợi dụng sự cả tin, phều ra chút nước bọt để tranh giành quyền lợi cá nhân theo mộng tranh bá đồ vương, nên “lúc này đây ta không thèm đánh giặc”. Ta “không thèm đánh giặc” bởi trong đầu óc ta luôn nghĩ:
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Đến nỗi nhà văn Võ Phiến phải thốt lên: “Bên kia là: những đứa điên say”; bên này là “ta” coi đánh giặc như trò chơi. Hoàn cảnh phải chăng đã xui có cái bất cần này để quân bình lại cái quá đáng kia. Óc hài hước bên này để hiểu chính óc mộng tưởng bên kia? (Võ Phiến, Chúng ta qua cách viết, NXB Giao Điểm, SG 1972)

Từ một thái độ rạch ròi như vậy, trong cuộc hành quân, dưới con mắt nhà thơ “du côn” là chuyện vặt, không phải của bản thân mình nên kêu các “ngài du kích” đứng xê ra, đừng có bắn nheo để ta “dừng quân nơi đây nói chuyện tiếu lâm chơi”.
Cũng vì chiến tranh là thứ “tai trời ách nước”, thân phận ta như cánh bèo dạt lên bãi bùn khô thì sống chết cũng là chuyện vặt:
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui.
Chất bi thảm trong Mật Khu Lê Hồng Phong một lần nữa lật tung ra bề trái thúi hoắc của câu nói thời thượng từ cửa miệng các nhà đạo đức giả, trong hoàn cảnh này như cái tát của một cô gái điếm vào mặt những tên chính trị ma đầu, ma cô!
Người sống sót nâng ly mời kẻ khuất
Lại gần đây trên bãi cỏ bờ sông
Soi mặt mình trong dòng nước xanh trong
Để nhìn thấy hình bản lai diện mục
Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt
Xin giã từ đời vũ khí, huy chương
Xin trở về như một kẻ hoàn lương
Xin vứt hết xin bắt đầu lại hết
(Tiệc tẩy trần của người sống sót)
Nói theo cách nói của Cao Huy Khanh lúc chúng tôi nằm chung ĐĐ 31 trường Võ Bị Thủ Đức khóa 6/70, thì cuộc chiến tranh này dưới con mắt của Nguyễn Bắc Sơn là “cuộc nhàn du vào con đường huyệt tận, là sự nghêu ngao trên chiếc giá treo cổ hận thừ”, mà Sơn thì như một con sóc trước bờ vực sống và chết, luôn cười ha hả, sướng điên một nỗi buồn tênh vô cùng thênh thang, ngan ngát những hương thơm của hoa cỏ, nắng ấm, suối trong… và chung quanh là mã tấu, lưỡi lê, bom đạn!
Có lẽ vì thế mà phong thái khinh bạc cứ mỗi lúc mỗi đậm đà hương bưởi hương cau:
Khi tao đi lấy khẩu phần
Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan
Mùa này gió bãi mưa ngàn
Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà
Những thằng lính trẻ hào hoa
Lưu đày trong cõi rừng già núi xanh
Lao mình vào cuộc phân tranh
Tiếc thương xương máu sinh thành được ư
(Một tiếng đồng hồ trước khi lên đường hành quân)
Suốt dọc Chiến tranh Việt Nam & tôi, tôi cố tìm chất anh hùng ca kiểu Homère với những Odyssée, Iliad … nhưng chỉ toàn những bi hài đan xen vào nhau bằng những tiếng cười vui cứa nát trái tim:
Mày gửi một chân ngoài trận mạc
Mang về cho mẹ một bàn chân
Mẹ già khóc đến mù hai mắt
Đời tàn trong lứa tuổi thanh xuân
(Căn bệnh thời chiến)
Cỗ máy băm thịt khổng lồ kia đã biến đổi nhân cách con người một cách tàn tệ nhất, để mọi người ai cũng có thể nhận ra, nhưng Nguyễn Bắc Sơn hơn mọi người là dám thốt thành lời, mà lại là lời thơ khôi hài như một lưỡi dao nhọn hoắt:
Ngày trước mày hiền như cục đất
Giờ mở miệng ra là chửi tục
Hà hà ra thế con nhà binh
Ngôn ngữ thơm tho như mùi cứt
Ngày trước mày định đi tu tiên
Giờ lính tu bi-đông ừng ực
[...]
Giờ tối nằm mơ chỉ thấy tiền
Nhân nghĩa gì gì quên tuốt luốt
(Bài hát khổ nhục)
Con người bước vào rồi may mắn bước ra khỏi guồng máy chiến tranh cuối cùng chỉ là “như rượu còn ly cặn”, là “kiếp ngựa què”.
Trong Chiến tranh Việt Nam & tôi, còn có một Nguyễn Bắc Sơn thứ hai ngoài chất du đãng phóng khoáng, ngoài chất du côn khinh bạc, ngoài chất du kề bi hài. Đó là một Nguyễn Bắc Sơn từng trải, bay bổng lên cao và chui sâu dưới tối, căng mắt, căng tai mở toạc trái tim và tâm hồn để đắm chìm trong dòng triết học phương Đông trầm mặc, như chính anh đã tự vẽ chân dung mình:
Trên trái đất có rừng già núi non cùng biển sông
Trong Nguyễn Bắc Sơn có kẻ làm thơ
Kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng
Hoặc nhà thơ theo khí hậu từng mùa
(Chân dung Nguyễn Bắc Sơn)
Anh đứng giữa hai thái cực cuộc đời, chiêm vọng nó, hít thở, hoà tan như thể một trưa hè tắm sông và khi bước lên bờ, anh chính là Nguyễn Bắc Sơn chứ không là con người nào khác, mới toanh, mát mẻ: 
Trong đáy giếng nhà tôi
Sống một con cá trào [tràu?] già
Những đêm trăng
Dường như y không sao ngủ được
Y bì bõm
Chơi đùa cùng ánh trăng, khí hàn và nước
Tôi ngồi bên thành giếng
Im lìm chiêm ngưỡng y.
Nói về Nguyễn Bắc Sơn và thơ Nguyễn Bắc Sơn thì còn muôn trùng điều để nói, để chọc xẻ và ngắm nhìn, để phanh thây và quàng vai. Công việc đó xin mượn lời các nhà văn đã từng nói, viết về anh:
“Phong thái ngang tàng mà khinh khoái, chết thì thôi, còn sống thì còn vui. Chẳng những trước khi đụng trận một ngày, mà trước khi hành quân một giờ, Nguyễn Bắc Sơn cũng thản nhiên “khơi khơi chấp hết” [...] Chiến tranh đối với họ đã trở thành chuyện cơm bữa, không còn lý do gì để đại ngôn, lớn lối nữa”. (Võ Phiến, Bách Khoa số xuân Canh Tuất)
“… Đọc thơ Nguyễn Bắc Sơn tôi có liên tưởng đến tiếng thơ Quang Dũng trong bài “Tây Tiến”, chỉ khác thơ Quang Dũng là kết tinh của một hoàn cảnh bi hùng, còn thơ Nguyễn Bắc Sơn là kết tinh một hoàn cảnh bi hài”. (Doãn Quốc Sỹ, Văn số 185 ngày 1.9. 1971)
“… Có cái ngang tàng đượm màu sắc Lão Trang, đánh giặc không cần lý tưởng mà vẫn đánh, coi cuộc chiến như trò chơi, thương xót kẻ thù như ruột thịt”. (Chu Tử, tuần báo Đời số 9 tháng 11.1969) 
“Mấy bài viết về chiến tranh có cái hào sảng, bi đát của tướng Thần Quang Dũng. Bài “Chân dung Nguyễn Bắc Sơn” thật hay. Đọc được một bài thơ hay thấy sung sướng cả ngày”. (Viên Linh, thư riêng ngày 27.11.1969)

Các bạn độc giả không tin ư? Cứ bỏ tiền ra mua tập Chiến tranh Việt Nam & tôi (do hai bạn văn Phạm Văn Nhàn và Trần Hoài Thư sắp xếp, tái bản). Nói như Viên Linh thì với 27 bài thơ của Sơn các bạn sẽ sướng cả tháng, cả năm. Nếu chưa tin, tôi chép lại nguyên văn mấy dòng trên đầu sách để giới thiệu tập thơ này (do Ngô Nguyên Nghiễm phóng bút) khi xuất bản lần đầu 1972:“Tập thơ hát lên tiếng hát lồng lộng bi tráng của một người tham dự chiến tranh Việt Nam, một thiền sư bụi đời, một gã du đãng trầm mặc.
Những bài thơ xa như tiền chiến, xưa như Đường thi, nhưng kỳ lạ thay, mới tinh và gần gũi như sáng hôm nay…”.
Một đoạn phỏng vấn giữa Nguyễn Lệ Uyên và nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn:
Ng: Ông làm thơ từ hồi vào vậy?
NBS: Tôi không làm thơ. Tôi chỉ gồng gánh thơ đi chơi.
Ng: Gánh thơ vào chiến trường, hậu cứ, nhà thổ…?
NBS: Chỗ nào tới được thì ta cứ đi.
Ng: Ông gánh cả rượu đế Nùng và mấy chục chai bia theo khi hành quân?
NBS: Bốn chục chai đồ bỏ.
Ng: Gan bẩm vậy sao khi “Qua cầu sông Luỹ nhìn quanh quất / Nước đỏ cầu đen chợt nhớ nhà“?
NBS: Ồ cũng lạ thiệt. Đôi khi tôi cũng tự hỏi: “Sắt đá ồ sao lại nhớ nhà”. Cái đó mới kỳ.
Ng: Không kỳ sao được khi “Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng / Còn ngại hành quân động Thái An“? Động Thái An nay còn không?
NBS: Còn mất, mất còn; có không, không có.
Ng: Thật tội nghiệp cho các cô gái ở bốn quận miền Bắc, nơi “có nhiều nhà điếm và nhiều trại lính”.
NBS: Bởi vậy nên tôi phải “Gửi tâm hồn vào những đám mây bay / Đi tranh luận cùng thánh hiền thiên cổ”.
Ng: Đó là chuyện hồi xưa, cũ mèm, trên ba mươi năm rồi. Còn giờ thì sao?
NBS: Giờ?
Ng: Ừ, giờ?
NBS: Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc
Vô tình ngang một quán cà phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về.
Ng: Bấy nhiêu đó?
NBS: Ông móc trong đáy thùng thử coi.
Ng: Tôi lượm quanh hồ Than Thở và hồ Xuân Hương, để tôi đọc cho ông nghe:

Về đâu đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba ngàn thế giới cũng chưa to

Tháng Giêng ngồi quán, quán thu phong
Gió nhạn môn quan thổi chạnh lòng
Chuyện cũ nghe đau lòng tứ xứ
Thương Kiều Phong, nhớ tiếc Kiều Phong

Tháng Giêng có kẻ đi tìm cúc
Nhưng cõi đời đâu có Cúc Hoa
Thấy đám phù bình trên mặt nước
Biết mình đi lộn nẻo bao la

Lạng quạng ra bờ sông ngó nước
Trên bờ dưới nước gặp ông câu
Ta câu con đú ngươi con đẻn
Chung một tâm hồn tất gặp nhau

Ghé thăm ông bạn trồng cây thuốc
Mời nhau một chén rượu trường sinh
Bát cơm tân khổ trong tù ngục
Câu chuyện năm năm khiến giật mình

Khi gã Yêu Ly đâm Khánh Kỵ
Là đâm trúng phải trái tim mình
Sông Mường Mán không dung hào kiệt
Muôn đời bóng núi đứng chông chênh

Nằm ngủ dưới cây nghìn cánh hạc
Dường như mặt đất tiết mùi hương
Ngủ thẳng một lèo chiều mới dậy
Dường như mình cũng mộng hoàn lương

Dường như đứa trẻ nghìn năm trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua

NBS: Mẹ kiếp, thơ thằng nào mà thơm như cứt!?
Ng: Hình như đó là thơ của Nguyễn Bắc Sơn.
NBS: Hắn là thằng nào vậy?
Ng: Nghe nói hắn là một tên bụi đời thượng hạng ngoại hạng.
NBS: Gã láo thật.
Ng: Vâng, láo. Ông còn gì để nói với độc giả Thư Quán Bản Thảo không?
NBS: Ông nhắn giùm các cô gái nhà lành, những thằng làm chính trị, những thằng đạo đức giả chớ có đọc loại thơ trong thúng mủng cảo nia trên đường bụi bặm.
Ng: Cảm ơn ông.
NBS: Không cần!



Nguyễn Lệ Uyên
(tháng 6/05)