Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

VĂN QUANG * Cái danh hão

    
 Ca sĩ Ánh Tuyết quả quyết rằng, không vì bất cứ danh hiệu nào mà buộc mình phải "xin" như vậy.

Cứ mỗi khi có đợt phong tặng danh hiệu “nghệ sĩ nhân dân,” “nghệ sĩ ưu tú” lại có màn đấu đá tưng bừng trên khắp các mặt báo, các trang mạng. Năm nay cuộc đấu đá còn rầm rộ hơn, có lẽ bởi cái tật hám danh đã ăn sâu vào mạch máu của các ông bà được đời coi là “nghệ sĩ” ở VN.


Còn một lý do khác nữa không kém phần quan trọng là khi được cái danh hiệu “cao quý” đó thường đi đến đâu cũng được ngồi chiếu trên và thường được các quan chức coi trọng hơn mấy anh chị chẳng có tí danh hiệu còm nào. Thí dụ nhỏ như khi lái xe trái luật, đưa cái danh nghệ sĩ nhân dân ra cũng được các cậu cảnh sát giao thông nể nang có khi tha bổng luôn. Hoặc khi làm ăn, muốn mở hàng mở quán đều được “chiếu cố” đặc biệt hơn mấy anh dân đen. Cần chạy chọt cái gì cũng dễ dàng lọt qua khe cửa hẹp, các anh quản lý thị trường cũng chịu khó làm ngơ. Thế nên rất nhiều nhà nghệ sĩ VN mở hết quán này đến quán khác, làm ăn rất khấm khá, có khi giàu sụ.
Tuy nhiên tôi nói “hầu hết” không phải là tất cả, vẫn còn đó một số nghệ sĩ không bao giờ mơ màng đến cái danh này. Cụ thể như Ca sĩ Ánh Tuyết, Cẩm Vân, Văn Thành, Thành Lộc, Út Bạch Lan... họ là những người tự trọng, thẳng thừng tuyên bố không bao giờ chịu hạ thấp mình, làm đơn tự kể lể thành tích của mình đi xin cái danh hiệu nghệ sĩ ưu tú hay nhân dân. Nhưng con số này có vẻ như quá ít so với những ông bà nghệ sĩ đang cãi cọ quyết liệt về cái vụ danh hiệu này.

Sao không có nhà văn nhà báo ưu tú?

Có điều tôi không hiểu là tại sao có đủ danh hiệu nghệ sĩ nhân dân cho các ngành các giới như nhà giáo ưu tú, đạo diễn nhân dân, ca sĩ ưu tú lại không có nhà văn nhà thơ và nhà báo ưu tú hay nhân dân. Vì chẳng có lời giải thích nào nên bà con có vài cách suy luận: Một là những ông là nhà văn nhà thơ ở VN ô-tô-ma-tích được là nghệ sĩ nhân dân tuốt luốt rồi, khỏi cần phong tặng? Hai là các ông nhà văn, nhà thơ, nhà báo ở VN không được coi là nghệ sĩ mà chỉ là thợ viết, thợ thơ, thợ làm báo. Ba  là các ông trong ban tuyển chọn cho rằng mấy anh nhà văn nhà báo “lắm mồm,” cho anh này không cho anh kia, nó chửi cho tan nát. Chi bằng “quên” mấy anh ấy đi cho tiện việc quan.
Tôi hỏi mấy ông nhà văn nhà báo kỳ cựu ở VN, chẳng ông nào biết rõ lý do. Các ông ấy xúi tôi “đi mà hỏi mấy ông làm ra những cái danh hiệu ấy.” Vậy xin chuyển câu hỏi này cho mấy quan trên văn hóa đã “sáng tạo” ra mấy cái danh hiệu này trả lời cho bà con “thông suốt.”
Năm nay nghệ sĩ Út Bạch Lan dù được vận động tặng danh hiệu NSND nhưng bà không làm thủ tục, bà chỉ xin làm “sầu nữ” chứ không cần danh hiệu nào khác.

Những lý do xảy ra đấu đá

Trở lại với chuyện năm nay. Kể từ năm 1981 đến nay đã thực hiện 8 đợt xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân (NSND), nghệ sĩ ưu tú (NSƯT). Năm nay, gần đến ngày “đại lễ 2-9” cũng là ngày trao tặng danh hiệu đợt thứ 8, nên vào tuần này đầu tháng Tám này những tranh cãi “nổ” ra gay gắt hơn bao giờ hết.
Có thể thấy rõ lý do xảy ra tranh cãi, đấu đá vì ba lý do chính do các ông bà này nêu ra:
- Nhiều nghệ sĩ có nhiều cống hiến không được vinh danh, nhiều nghệ sĩ có thành tích nổi bật bị “đánh trượt” vì vi phạm... đạo đức,
- Nhiều nghệ sĩ “tố” Hội đồng xét duyệt cảm tính, bị mua chuộc, trù dập cá nhân...
- Nhiều nghệ sĩ khác lại cho rằng quy định xét tặng cứng nhắc, cổ hủ, khiến nghệ sĩ bị thiệt thòi.

Cả hội đồng cấp nhà nước bị lừa

Trên báo Kiến Thức số ra ngày 29-7-2015 vừa qua đăng bài viết về việc xét duyệt danh hiệu NSND, NSƯT cũng có nhiều chuyện mang tính thâm cung bí sử mà người ngoài cuộc khó hình dung ra.
Ông NSND Bùi Đắc Sừ - nhân viên trong hội đồng cấp Bộ và cấp Nhà nước vừa tiết lộ một “bí mật” khiến cả hội đồng bị mắc lừa một anh “chạy” cái danh hiệu NSND. Ông kể trường hợp của một họa sĩ sân khấu.
Theo đánh giá của ông Bùi Đắc Sừ người này chỉ xứng NSƯT, dù có tên trong danh sách xét tặng NSND. Các thành viên trong hội đồng cũng đồng ý như vậy. Nhưng sau đó, nghệ sĩ này đến từng nhà của các thành viên để “nói khó” rằng "em biết mình kém, nhưng em chỉ xin anh một phiếu để khi công bố kết quả cho đỡ ngượng." Ai dè, khi hội đồng công bố kết quả, ông này có tất cả phiếu thuận của hội đồng.
Lúc này, những người “cầm cân nẩy mực” mới té ngửa là hóa ra, ai cũng được nghệ sĩ này đến nhà “nói khó” câu đó. Cuối cùng thì người này vẫn được phong NSND. Cả hội đồng cấp nhà nước đều bị “hố to” nhưng đành ngậm bồ hòn làm ngọt, nín thinh. Anh họa sĩ sân khấu cười thầm với cái danh hiệu vừa vớ được.


Chạy chọt danh hiệu như thế nào

Trên báo mạng VNnet một nghệ sĩ và một số nghệ sĩ khác cũng tiết lộ với Báo Gia Đình & Xã Hội rằng, chuyện “chạy” huy chương, “chạy” danh hiệu là hoàn toàn có thật.
Một nghệ sĩ giấu tên cho biết, nhìn vào danh sách những người được phong NSND đợt này, không chỉ chị mà phần lớn nghệ sĩ đều “ngã ngửa” khi thấy tên hai nghệ sĩ L.N và T.H thuộc quân số ở nhà hát kịch.
Theo nghệ sĩ này, T.H là người không có tài năng, chưa từng để lại dấu ấn gì với người trong nghề. Còn L.N là người không đủ huy chương theo tiêu chí mà Bộ VH,TT&DL đề ra. Ngay từ hồi xét danh hiệu NSƯT thì L.N đã không đủ tiêu chuẩn rồi, nhưng vì có... lý do riêng nên cũng dễ được thông cảm hơn.
Điều đáng nói là kể từ sau khi được phong NSƯT, người này không có thêm huy chương vàng nào. Vậy mà các ông hội đồng cũng “hồn nhiên” bỏ phiếu để nữ nghệ sĩ này được phong “nhân dân.” Khi danh sách này được công bố rộng rãi, một số NSND khác đã mỉa mai nói rằng, nếu cô này mà được phong thì có khi phải làm đơn xin từ bỏ danh hiệu của mình cho đỡ bị “cá mè một lứa.”


Chạy chọt và bôi trơn

Với riêng trường hợp của diễn viên L.N, nghệ sĩ giấu tên này cho rằng, rất có thể là do có “chọt” - tiếng lóng nói về chuyện “bôi trơn”. Người tố cáo kể thêm: “Bởi ngay từ khi phong NSƯT, chính tôi đã được xem tin nhắn của nữ nghệ sĩ này gửi đến cho một thành viên trong hội đồng xét giải đề cập chuyện giúp đỡ để được phong danh hiệu. Còn chuyện chi phí, nói là ngã giá mua giải thì nghe hơi phô, nhưng khi xong việc thì phải cảm ơn. Ít cũng phải 10 triệu, nhiều thì 20 triệu. Đó là với NSƯT. Còn với NSND thì... để mọi người tự phán đoán.” NSƯT còn “có giá” như thế thì NSND chắc là phải hàng trăm triệu hoặc... thân ái tặng nhau một chiếc xe hơi.
Một nguồn tin khác cho hay, cứ đến mùa hội diễn là các giám khảo lại không tránh được tình trạng nhờ vả, nhắn tin nhờ “giúp đỡ”. Đến nỗi, dù không còn ngồi trong hội đồng nhưng có đạo diễn vẫn được nhờ vả “bắc cầu” qua các giám khảo “đương nhiệm” để tác động xem “từ bạc có lên vàng được không,” “tiêu chuẩn có thiếu thì nhờ anh chị ra hội đồng hết sức bảo vệ”...
Một bạn đọc từng công tác ở đơn vị nghệ thuật Hà Nội (nay đã chuyển sang làm công việc khác) tiết lộ: "Khi còn làm ở đoàn nghệ thuật này, cứ đến mùa xét huy chương là nhà hát lại "đánh nhau" sứt đầu mẻ trán. Ai cũng muốn được đưa vào danh sách. Đấu đá, kèn cựa, rồi chạy chọt đủ cả. Nghĩ mà ngán ngẩm cho cái danh hiệu và danh xưng của những người được gọi là “nghệ sĩ”.
Chuyện nghe kể mà cứ ngỡ đùa rằng, có nghệ sĩ đi diễn ở tỉnh lẻ, một khán giả thắc mắc, danh hiệu NSƯT và NSND chắc là được thưởng nhiều tiền thưởng lắm, cho nên các nghệ sĩ mới “cố” để được như thế? Nghệ sĩ này đã trả lời: “Vâng, nhiều lắm. Đó là được thêm cái “danh hão” ở trước cái tên ấy”.
Thực ra thì khi trao danh hiệu, nghe chừng cũng được thưởng dăm ba triệu. Số tiền ấy nếu “chạy chọt” thì phải gấp mấy lần. Nếu mà được tặng cả cái nhà thì không hiểu người ta còn bất chấp danh dự, liêm sỉ đến đâu.


Chuyện xin danh hiệu cho người đã chết, chuối oản để ai xơi?

Bạn Hưng Bình (hungbinh68@...) kể trên báo Khám Phá VN: Một chuyện hy hữu khác là sau lễ viếng và truy điệu Nghệ sĩ hài Văn Hiệp, đạo diễn, NSND Khải Hưng đã vận động hơn 150 nghệ sĩ ngoài Bắc cùng ký đơn xin Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú cho danh hài Văn Hiệp. Nhiều nghệ sĩ không có mặt tại đám tang cũng bày tỏ nguyện vọng được cùng tham gia ký đơn. Nhưng gặp ngay một số phản ứng gay gắt từ các nghệ sĩ khác và dư luận của người dân. Một năm ở đất nước này có bao nhiêu nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ và rất nhiều “nhà” khác cứ lẳng lặng mà mất. Trong đám đông viết đơn xin phong “Ưu tú và Nhân dân” cho nghệ sĩ Văn Hiệp, công chúng nhận ra không ít "cây đa, cây đề" của làng điện ảnh. Họ bảo vì cụ Hiệp chuyên đóng vai phụ, nên chiếu quy chế phong tặng Nhân dân – Ưu tú, cụ không lọt đề cử. Người ta có lý để cho rằng, hành động ký tên tập thể vào đơn xin danh hiệu cho Văn Hiệp là bốc đồng và bao đồng? Lúc Văn Hiệp còn tại thế, chả thấy “cây đa, cây đề” nào đứng ra tập hợp ý kiến đòi quyền lợi cho ông “trưởng thôn”. Nay có đến cả 150 con người đùng đùng ký đơn xin, mà đã xin - đã cho ít nhiều cũng làm hạ thấp người đã khuất. Thậm chí sẽ là tổn thương nếu điều đó đi ngược với di nguyện của nghệ sĩ Văn Hiệp. Thưa các vị, "xét một cách toàn diện" danh hiệu cho người đã chết chỉ như chuối và oản trang trí trên bàn thờ. Nói cho cùng, đó là thứ để dành cho người đang sống. Còn người chết, họ cần gì? Chuối oản để ai xơi?

Cái bệnh háo danh còn lan sang các lãnh vực khác

Thực ra, không chỉ lĩnh vực nghệ thuật sân khấu mà nhiều lĩnh vực khác như giáo dục, khoa học, kỹ thuật cũng rơi vào tình trạng tương tự! Bạn Diệp Văn Sơn viết trên báo Người Lao động: “Giáo sư, phó giáo sư là chức danh của nhà giáo ở cơ sở giáo dục đại học. Giáo sư (GS), phó giáo (PGS) sư là chức danh của nhà giáo ở cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu. Vì thế, không nên để những quan chức cả đời không dạy học, không hề gắn bó với cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu nào “chạy” chức danh GS, PGS. Quan chức đeo cái chức danh của nhà giáo cũng chẳng giải quyết được việc gì, có chăng chỉ giải quyết “khâu oai”. Những năm gần đây, nhiều quan chức không bằng lòng với chức vị hành chính vốn đã cao của mình nên thích gắn thêm trước chức vụ học hàm, học vị GS, PGS hoặc Tiến sĩ để cho... thêm phần trí tuệ! Đến nay, hầu như không nước nào trên thế giới lạm phát học hàm, học vị như ở VN. Căn bệnh chạy danh hiệu của giới nghệ sĩ và chạy học hàm, học vị của giới thầy giáo, nhà khoa học, nhà quản lý... chung quy lại cũng là hệ quả của bệnh háo danh mà thôi”.
Đúng là cái bệnh háo danh ngày càng được dịp “trăm hoa đua nở” ở cái thời đại quá quen với oai quyền giả mạo và dối trá này.



 VĂN QUANG

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

thơ NGUYỄN BẮC SƠN


Thiếu nữ
Đứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình lạnh buốt mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên chợt nhớ mắt một người thiếu nữ
Đã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ mòng thuở đó.

Cười lên đi, tiếng khóc bi hùng

Đời bắt một kẻ làm thơ như ta đi làm lính
Bắt lê la mang một chiếc mai rùa
Nên tâm hồn ta là cánh đồng úng thuỷ
Và nỗi buồn như nước những đêm mưa

Trong thành phố này ta là người phản chiến
Ngày qua ngày ta chỉ thích đi câu
Râu tóc mọc dài như bầy cỏ loạn
Sống thật âm thầm, ai hiểu ta đâu

Dù đôi khi ta lên núi Tà Dôn uống rượu
Trời đất bao la ta chỉ một mình
Nhưng làm sao quên cuộc đời dưới đó
Quên những thằng người bôi bẩn kiếp nhân sinh

Ngày hôm nay ta muốn chặt đi bàn tay trái
Để được làm người theo ý riêng ta
Ngày hôm nay ta muốn thọc mù con mắt phải
Ngày hôm nay ta muốn bỏ đi xa

Khi nâng chén lên cao ta muốn cười lớn tiếng
Cười lên đi, cười những tiếng bi hùng
Đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm lính
Chiếc mai rùa đã nặng ở trên lưng

Người hoa khôi áo rách

Rồi một hôm gió bấc có ai ngờ
Ai lãng đãng ngờ chi cơn gió bấc
Cây bạch đàn trước cửa nhà em đang còn hay đã mất
Sao anh hình dung như có vết thương
Đang loang ra trong vũng nước vô thường
Truyền tín hiệu đến ngậm ngùi vô tận
Anh có nghe chuyện đời em lận đận
Những chuyến đi buôn những chuyến xe đò
Tiếng nói sau lưng lời chua chát nhỏ to
Dòng lệ em khô nhưng vẫn là dòng lệ mặn
Đã qua chưa ôi cái thời đăng đẳng
Đứng bên kia sông cũng ngó thấy điêu tàn
Băng giá chuyển mình băng giá mau tan
Tiếc câu thơ anh không đủ làm cho đời em ấm cúng
Tiếc loài người bày ra xích xiềng huyễn mộng
Đến nỗi quên mình là hạt giống vô biên
Câu chuyện tình như ngọn gió miên miên
Thổi ấm Kinh Thi thổi lạnh hồn Kinh Dịch

NGUYỄN BẮC SƠN

TRẦN TUẤN KIỆT * Nhận định về thơ Tuyết Linh với gần nửa thế kỷ làm thơ


Giới văn nghệ sĩ ở nước ta vì hoàn cảnh lịch sử luôn biến động và thay đổi vô cùng lớn lao nên có những đời sống văn hóa đầy nhiễu loạn và ảnh hưởng lớn đến đời sống cá nhân của nhiều người. Có những công việc vừa thực hiện đã thay đổi nhất là ở thế hệ 20 thanh niên dở dang học hành hay công việc để vát súng xung trận chống giặc Bắc. Trong hệ lụy chiến tranh đó cái sống thác loạn và cái chết bất tử luôn gây tác động tinh thần cho giới trẻ miền Nam tự do rất mạnh mẽ.

Văn học nghệ thuật của giới trí thức trẻ miền Nam sau thời nhà Ngô, chịu ảnh hưởng mạnh từ văn hóa Âu Mỹ, tinh thần hiện sinh lên thật cao cho nên mới có hiện tượng yêu cuồng sống vội! Còn ở miền Bắc văn hóa chịu xiềng xích nô lệ hóa con người theo chủ nghĩa Karl Marx Lenine mãi tận ngày nay. Cuộc chiến tranh Nam Bắc là nội chiến mặc dầu đều chịu sự cương tỏa của các nước lớn từ Liên Xô và trong Nam chiến tranh chống Cộng từ Mỹ. Người quốc gia nghèo nàn và lạc hậu luôn như cây sậy yếu mềm ngã theo chiều gió loạn. Trong hoàn cảnh đó Tuyết Linh ra đời trong một gia đình giàu có đầy quyền lực. Cô bắt đầu làm thơ lúc 13,14 của tuổi học trò, và đăng thơ trên các báo ở Sài gòn và trên các tuyển tập như Hoa Mười Phương, cùng nổi tiếng trong giới nữ sinh, phụ nữ đương thời như Minh Đức Hoài Trinh, Ngọc Hân, Thu Nhi, Phương Đài, Tuệ Mai ở nhóm Tao Đàn Bạch Nga, như Nhã Ca ở Ngàn Khơi của Trần Dạ Từ Nguyễn Hữu Đông, như Trùng Dương và các nhà văn nữ giới khác. Nhưng tiếng thơ của Tuyết Linh có một điểm khác lạ, có cái gì tự tin và gần với các nhà văn nhà thơ của Âu Mỹ. Ở lứa tuổi đó Tuyết Linh đã viết những câu thơ như sau:

Chậm chậm chiều ơi về chi vội vã
Ta cô đơn chiều ghé xuống đây chơi
Lời gió dịu e làm ta sa ngã
Chiều ơi chiều chậm chậm chiều ơi

Qua gần nửa thế kỷ tôi vẫn còn nhớ những vần thơ Tuyết Linh mà tôi sưu tầm được để đưa vào cuốn Thi Ca Việt Nam Hiện Đại. Điểm lạ và đặc biệt khác với phụ nữ đương thời thường tự xưng là em một cách yếu mềm thì Tuyết Linh đã xưng thẳng trong thơ là Ta, Ta cô đơn như sự cô đơn lớn lao của Huy Cận xưa kia hay “Ta không còn cô độc” của một Thanh Tầm Tuyền nhà thơ hiện sinh trong sáng tạo.

Ta cô đơn chiều ghé xuống đây chơi
Lời gió dịu e làm Ta sa ngã
Chiều ơi chiều chậm chậm chiều ơi!

Lời thơ đầy sinh khí và độc lập dù nó ở trong lớp tuổi học trò, thơ Tuyết Linh đăng báo thời đó thường được trả nhuận bút 150 đồng, trong khi đó TTK chỉ được trả mỗi bài thơ là 100 đồng. Được trả như thế nên Viên Linh đã nói đùa với Tuyết Linh, cô là cao thủ rồi đó. Có nhiều người thời đó say mê vẻ đẹp duyên dáng của Tuyết Linh cũng như những vần thơ đẹp huyền ảo của cô. Người theo đuổi say mê nhất có lẽ là Bùi Giáng, đến nay gần nửa thế kỷ thư và thơ của Bùi Giáng tặng kể cả các trang thư viết tay của ông, Tuyết Linh vẫn còn giữ và coi như vật quí nhất trong đời mình. Vậy đó, bỗng nhiên con chim Hồng, lời hót con Họa mi biến mất! Giới văn nghệ đồn đại Tuyết Linh có lẽ đã lấy phó Đô Đốc Hải Quân là bạn thơ của nàng. Nhưng ngờ đâu nàng lại lên xe hoa về nhà chồng, với người chồng có địa vị trong Toà Án Mặt Trận lúc bấy giờ.

Cô bắt đầu cuộc sống của một mệnh phụ phu nhân trong cảnh giàu sang lên xe xuống ngựa. Từ đó, cô buông bút và cách biệt hẳn với bè bạn văn chương, xa rời chữ nghĩa vì bị câu thúc kềm chế của gia đình chồng. Cô ép mình yên phận và uốn mình như rong rêu lượn theo dòng nước. Cho đến khi lịch sử đổi thay năm 75, chồng Tuyết Linh sang Mỹ theo diện HO, Tuyết Linh theo chồng qua Mỹ, đi học trở lại và làm việc. Một cuộc sống khá tự do và hình bóng xinh đẹp của người vợ như là nỗi ám ảnh của người chồng luôn sợ sự giao du thân mật với kẻ khác. Tuyết Linh trong thư gởi TTK đã nói nhiều, chồng nàng luôn ghen tuông bóng gió nhưng cả hai vẫn sống chung, lo dựng vợ gã chồng cho các con xong rồi họ mới chia tay một cách êm thắm. Tuyết Linh về ở với vợ chồng cô con gái út cho đến nay. Các con cháu đều thành đạt, đời sống Tuyết Linh khá giả và thường thì bà lấy du lịch khắp nơi làm nguồn vui sống. Ở cái tuổi gần “Thất thập cổ lai hy” Tuyết Linh bắt đầu làm thơ nhiều. Bây giờ thì tiếng thơ của con họa mi ngày nào đã ngân cao vút, hồn thơ bao la, tinh thần sảng khoái mở rộng với vũ trụ vạn vật, Tuyết Linh đã suy niệm cuộc đời qua cái nhìn về bản thân mình như sau:

Tìm tôi từ thấp lên cao
Từ trên xuống dưới chỗ nào là tôi?
Bao la là đất là trời
Phận tôi cát bụi ngậm ngùi xưa sau!

Cái nhìn chân tướng sự vật, chân tướng cuộc đời mình thật bi đát, phải không?
Tuy nhiên chỉ có thể là cái nhìn trong một thoáng về hình hài cát bụi, tinh thần của chủ nghĩa hư vô siêu thực Âu Châu, bà còn viết những vần thơ tuyệt vời kỳ ảo khác. Ta hãy đọc bà trong bài Ru Anh:

Ngủ đi anh, ngủ đi anh
Ngoài kia nắng dội vàng hanh nụ tình
Em còn hạt lệ long lanh
Ru anh có đủ những bình minh sau?

….

Rồi tiếng ru huyền diệu có những hạt lệ long lanh đó kéo dài cho đến câu thơ cuối:

Đêm tàn còn những bơ vơ
Lòng em chợt lạ đôi bờ nhớ quên!


Tiếng thơ như vọng vào thời gian dội lại trong cõi viễn mơ trầm tư của cuộc đời mình, ở đó đôi bờ âm hay dương, nỗi nhớ hay quên, thực và mơ, mơ và thực như cánh bướm của Trang Chu trong mơ hóa bướm bay đi ngao du giữa cuộc đời này. Sự hư ảo huyền diệu chen lấn hư hư thực thực khiến cho người đọc thơ Tuyết Linh cũng rơi vào một trạng thái u yêu huyền ảo đến vô cùng! Đó là lúc mà cái trực nghiệm lại bản thân mình giữa sinh tử phù du đã đến gần với triết lý của Trang Chu, tư tưởng của Tuyết Linh không dừng ở tư duy vô thường của Phật hay Hư Vô của triết lý Âu Châu hiện đại, càng viết càng đưa tiếng thơ ra đời càng đi sâu vào một thế giới tâm linh hư ảo mà những tâm hồn chân thực khó mà lãnh hội được.

Bây giờ Bùi Giáng đã đi xa. Nhớ ngày nào Bùi Giáng đem các bài thơ của Tuyết Linh đến cho TTK đọc và từ đó TTK đã say mê thơ của bà, vừa được chiêm ngưỡng cái hình bóng người đẹp qua bức ảnh chụp chân dung, mà BG đã đặt cho bức ảnh cái tên là Marylin Monroe. Đó là hình ảnh vô cùng huyền ảo của Tuyết Linh.

Thơ Tuyết Linh được đưa vào THI CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI khi mà nàng thơ áo tím đã đi lấy chồng được hai năm. Bốn mươi bảy năm sau, Tuyết Linh tìm được địa chỉ và gởi thêm những giòng thơ mới lạ, tiếng thơ độc lập và kì bí cho TTK. TTK đã gom lại làm một tập bản thảo, và nhắn nhủ Tuyết Linh không nên để cho độc giả, như TTK, “tiếc chết” vì sự tuyệt tích của nó, và không biết có phải lời đề nghị của TTK có được chút ảnh hưởng gì không, mà bây giờ, đứa con tinh thần “Nơi Đâu Nghìn Trùng” đang chuẩn bị góp thêm sắc hương vào vườn hoa văn học VN.

Ngoài ra bà đã đăng thơ ở nhiều báo như Khởi Hành và Thư Quán Bản Thảo gần như là một cuộc phục sinh về thơ vậy. Tập thơ mới soạn sắp xuất bản bà gởi cho TTK khá nhiều bài hay lạ, tinh thần khoái hoạt, đôi khi như hí lộng vào tư tưởng triết học cổ kim Đông Tây. Con người đó đã trầm tư nhiều qua hằng thế kỷ nên tiếng thơ đó cũng vậy, bà bắt đầu lập ngôn bằng thơ của mình, đầu tiên là các nhà văn nghệ trước 75 ai cũng vui lòng đón nhận cái tinh tế của một tâm hồn thật lớn lao và không kém hoa mộng đó. Thơ của Tuyết Linh chứa đựng tất cả nét suy tư hoài niệm của hằng thế kỷ suy niệm của các triết nhân nghệ sĩ trong thơ đầy lãng mạn, tinh anh trong thi ngữ gieo vần cho ta thỉnh thoảng gặp được những kỳ tứ đặc sắc vô song của một thi tài nữ ViệtNam trong thế kỷ này vậy.

Điều đáng trân trọng là bà không hề chịu lôi cuốn vào các giòng thơ mới xuất hiện gần đây ở Âu Mỹ, thơ bà gần với tư tưởng siêu hình của Đông Phương huyền bí hơn, trầm tư của giòng thi ca tư tưởng hiện đại hơn, những nhận thức về cuộc đời, suy tư về kiếp người, ý tưởng về tình yêu hạnh phúc, về hư vô và vĩnh cửu đôi lúc lại tự đùa cợt ví von với cỏ cây sự vật, với cái có cái không, cái cô đơn thao thiết về cuộc tình sầu qua sự biến đổi của lòng người, của năm tháng và màu sắc của vạn hữu.

Dường như Tuyết Linh cũng như Bùi Giáng đã để trái tim say yêu, say đạo lý và say thơ vào lòng bàn tay của vạn vật. Bà không thán oán điêu linh trong các chuyện bạc tình bạc hạnh. Kiếp người như một loài hoa đẹp sinh ra là để chờ đón những mưa gió phũ phàng những lụy tàn với thời gian để về cùng núi xa nơi vu sơn vu giáp nào của nàng tiên thơ của đời.

“Nơi Đâu Nghìn Trùng” là thi phẩm sau này của Tuyết Linh mà nội dung hình ảnh tươi đẹp với những nỗi đời xót xa cay đắng chỉ là cái chuyện thừa, tự nhiên của lòng người và cuộc đời mà thôi, mà ở trong đó có biết bao ân tình, biết bao câu chuyện của một người từng trải đã chịu nhiều hoang phế như bức thành cổ của đời.

Lời thơ tự nhiên ý trác việt trong thơ hàm ngụ những hình ảnh Thiên Thu trong từng hạt bụi cuộc đời.
Những hệ lụy và những nỗi đau vô cùng âm thầm đã chôn sâu tự đáy lòng rồi cũng được khơi lên hiện hữu với nhà thơ. Ta cũng có thể gọi đây là loại thi ca tư tưởng của Tuyết Linh mặc dầu nó luôn đậm chất lãng mạn muôn đời của khách tài hoa, nó luôn hiện hữu sống động của khách đa tài bạc mệnh giữa muôn vàn khát vọng.

Tuyết Linh vẫn còn thừa thời gian để sống và làm thơ như để un đúc thêm rộng thêm sâu về cuộc lập ngôn của mình. Tuyết Linh chuẩn bị cho ra thi phẩm của mình sau nửa thế kỷ ngưng hẳn mạch tiết của thơ, giòng thơ nói chung là điệu thơ tình cảm, gợi người ta nhớ đến những lá thư tình những ẩn tình ít nhiều trắc ẩn với người yêu với người cùng song hành với mình qua những cuộc tình đầm ấm nồng nàn cho đến lúc chia tay những cơn đau ngầm, những ngậm ngùi sâu thẳm chung với định mệnh của đời mình. Tiếng thơ đó được tập hợp trong một thi phẩm mới vừa đơn độc vừa u hoài của khách thơ đa tình sầu mộng đó là thi phẩm “Nơi Đâu Nghìn Trùng”. Những người yêu thơ chắc hẳn sẽ phải trân trọng đến giá trị đặc biệt của hồn thơ riêng, một cõi buồn u uẩn của bà, nơi đó tâm tư dường như buông lỏng, thả trôi đi theo áng mây trời, theo thời gian, có thể ta thấy gần với giòng sông vĩnh biệt thuở nào. Tuyết Linh với vốn thơ sung túc tràn trề của mình hầu như bà đã thừa ngôn ngữ để cho tiếng lòng mình bay bổng lên muôn trùng cho đến cõi bờ ngàn xưa mà bà nhắc đến hai chữ xuân thu của đời chiến quốc. Nét hào hoa đậm nhiều hệ lụy của tình trường càng cho người đọc tác phẩm của bà cùng chia sẻ định mệnh với bà tạo ra dư âm trầm buồn sầu mộng như thơ bà, cũng thấy day dứt cõi lòng qua bài thơ “Tôi và Bóng thật ưu tư, thật khắc khoải và cô đơn vô cùng “Xót xa cũng chút hình hài/ Theo cơn gió cuốn lạc loài tử sinh”…hay:

Hai ta chung một lời thề
Đời tôi phận bóng đi về có nhau
Như con nước chảy chân cầu
Loanh quanh lẩn quẩn với màu thời gian…


Những nhà thơ nữ tài hoa cùng chung thế kỷ với bà có lẽ chỉ viết với tinh thần thi ca sâu thẳm đến thế mà thôi. Còn nhiều vần thơ trác tuyệt trích ra đây khiến bài dài lắm để độc giả tự đọc có lẽ hay hơn. Con đường lớn của thi sĩ Việt nhất là những nhà thơ nữ từ Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… đã được nối thêm những bước đi dài của những nhà thơ mới như Tuyết Linh, Nhã Ca , Minh Đức Hoài Trinh, Tuệ Mai Nguyễn Thị Vinh và một nhà thơ tự miền Bắc vào như Ý Nhi tạo ra được những giòng thơ đẹp trong lịch sử thi ca hiện đại. Một nửa thế kỷ trong đời thơ Tuyết Linh đã trôi qua quá nhiều tác động lịch sử, biến đổi lịch sử của đời người nhưng cuộc đời nhà thơ cũng có lúc thăng trầm, và biến động. Lịch sử ấy dường như không chi phối, không ảnh hưởng gì đến giòng thơ An nhiên Như nhiên và Tự Tại ấy!

Với một tinh thần vững vàng và triết lý nhân sinh vươn lên khỏi cái sinh lão bệnh tử tầm thường của cuộc đời, thơ Tuyết Linh vẫn tạo ra một sắc diện thanh kỳ rất mới tinh anh ở từng tứ thơ huyền nhiệm ở nhiều câu hỏi lớn đặt ra trong đời và đôi khi người tự trả lời ỡm ờ với cái vẻ tinh nghịch là lạ của cá tính mình.

Những tư tưởng mênh mông về vũ trụ thiên nhiên hiện ra trong bầu không khí u huyền của các giòng thơ lục bát như một người thả buồm trên dòng thời gian miên viễn mà đôi khi nó rất phiếm hoạt vây quanh mình.

Chúng ta trân trọng chào đón nhà thơ trở lại với nguồn sống tâm linh đầy chất trữ tình mà cũng đầy lẽ dung dị nhân ái đối với đời.



TRẦN  TUẤN  KIỆT


Nơi Ðâu Nghìn Trùng

Tuyển tập thi ca của nữ sĩ Tuyết Linh 

do Ðất Mới xuất bản năm 2015.
Sách dày 180 trang do Tâm Hữu trình bày. 

 Bìa và phụ bản màu của Đinh Cương, 
Trịnh Cung. Trần Tuấn Kiệt đề tựa.
Bạn đọc yêu thơ muốn có tác phẩm này xin vui lòng 
liên lạc với tác gỉa qua điện thư :

tuyetlinh39@yahoo.com 




MANG VIÊN LONG * chiều vơi bớt khổ



Trương Thị Thịnh
         Tôi rất tâm đắc khi đọc câu Pháp Cú sau đây trong Phẩm Ngàn (Sahassavaggo): “Tụng đến ngàn câu vô nghĩa, chẳng bằng một câu có nghĩa lý, nghe xong tâm liền an vui, tịch tịnh”. Từ lời giáo huấn trên của Đức Phật, tôi nghĩ - chỉ cần nhớ và làm theo một câu trong muôn ngàn lời dạy của Đức Phật thôi, trong suốt cuộc đời mình, cũng sẽ mang lại cho ta, cho người nhiều niềm an lạc, lợi ích - ở đời nầy và đời sau rồi! Đâu cần đọc tụng, thuộc lòng, muôn ngàn câu, mà chẳng thực hành miên mật, tinh tấn? 

Đạo Phật là triết lý sống, là đạo để thực hành, để tự tìm thấy sự an lạc giải thoát chứ không phải để chiêm bái, lễ lạy! Mọi hình thức, chỉ để “trợ duyên”, giúp ta có thêm niềm tin, thêm “duyên lành” để đến gần với Đạo; không phải là cứu cánh! Đức Phật há chẳng đã khuyên ta:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã 

Thị nhân hành tà đạo 

Bất năng kiến Như Lai”

        Một trong vài câu kệ đơn giản tôi vẫn ghi nhớ, và gắng làm mỗi sáng từ nhiều chục năm nay khi thức dậy đón ngày mới là: “Sáng cho người niềm vui, chiều giúp người bớt khổ!” (Nhật tụng thiền môn).

       “Cho người thêm niềm vui” tức là đem lại cho mình niềm vui chân chính. “Niềm vui” ấy không đòi hỏi gì lớn lao, tốn kém, mà chỉ là lòng từ ái. khoan hòa, chia sẻ, trong những mối quan hệ thường nhật với người quanh ta thôi! Một lời thăm hỏi chân tình, một nụ cười cởi mở gần gũi, một cái bắt tay ấm áp tình nghĩa, một ánh nhìn thiện cảm chan hòa… Đó là những “niềm vui” mà ai ai cũng có thể làm được cho nhau, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn.

        Sự lắng nghe, cảm thông và chia sẻ, sẽ là những “niềm vui” ta có thể “cho người” mà chẳng tốn kém gì. Người được an vui, chính ta cũng là người được niềm an vui lớn hơn! Cuộc sống mà những người quanh ta đều được an vui, há chẳng phải là một đời sống hạnh phúc tuyệt vời hay sao?


        Sáng dậy sớm, đưa chiếc xe đạp cà tàng ra sân, chuẩn bị ghé công viên để đi vài vòng thư giãn cho trái tim ổn định; gặp mấy chị từ các vùng quê lân cận lên chợ mua đủ loại cây trái, quả củ, chất đầy chiếc xe honda cũ kỹ tội nghiệp, loay hoay với bao đồ kềnh càng không thể chất lên xe; tôi vội chạy lại tiếp tay một chút - chị cười vui : “Cám ơn chú!” Lên đến công viên, nhìn thấy người phụ nữ trạc trên 40, đang nhích dần từng bước trên con đừog quanh công viên mỗi sáng để tập đi sau cơn đột quỵ, tôi cũng có “lộ trình” đi theo con đường ấy, mỗi vòng qua mặt cô, tôi  bước chậm lại – nhìn cô, tươi cười hỏi thăm vài câu: “Sáng nay cháu có khỏe không? Gắng lên nhé!” hay “Cháu thường lên công viên lúc mấy giờ?” Những câu hỏi bâng quơ, thân tình như vậy, đã khiến cô cười rất tươi. Tôi chợt thấy gương mặt cô sáng lên một niềm tin cho dầu phía trước còn nhiều gian khó!

         Sau hơn 30 phút đi bộ ở công viên, tôi đạp xe về nhà. Con hẻm dẫn vào nhà hẹp, có dốc hơi cao, gồ ghề, người ba gác già đang ì ạch đẩy xe chở đầy hàng vào căn nhà trong cùng, nhưng xe không lăn bánh khỏi đoạn đốc. Tôi dựng xe, vội đẩy phụ bác một đoạn đường hẻm ngắn thôi, không nghe bác nói gì; nhưng trên gương mặt đen sạm của bác rạng rỡ một niềm vui!

         Tôi vẫn có giấc nghỉ trưa khoảng một giờ, 1 giờ 30 đã thức dậy. Theo “thói quen” hằng ngày, lúc rảnh việc, tôi thu nhặt các thứ “gọi là phế thải” (thùng giấy, chai nhựa, lon bia - nước ngọt, bao ny lông, giấy báo v.v…) từ bao rác con cháu để ở hiên, chờ xe thu rác buổi chiều đến đem đi, để dành một bao riêng, Vài ba ngày, chọn lựa được một bao đầy. Những người đàn bà vẫn thường dắt xe đạp vào hẻm hỏi mua đồ phế thải, tôi lôi ra “tặng” cho họ. Cả bao to, có lẽ nếu bán cho điểm thu mua quanh thị xã, cũng không hơn 10 ngàn đồng; nhưng tôi nhìn  thấy họ rất sung sướng! Mười ngàn đồng, cũng có thể giúp chi ta mua dược mấy ổ bánh mì không (hay 3 gói xôi) cho con buổi sáng, trước khi đi học!


         Người đàn ông đi xe đạp thồ trên 50 tuổi, từ quê NK xuống phố chợ đón chờ khách, thường ghé lại hiên nhà tôi ngồi nghỉ. Xin nước uống. Tôi mang tách trà mời. Hôm nào còn chút bánh trái gì nhâm nhi, đều cùng ông lai rai, trò chuyện mưa nắng. Tôi nhận ra ông ầy mùa đông cũng như mùa hạ, chỉ với bộ áo quần kaki cũ; tôi biết mình còn dư một áo ấm (hơi cũ), mấy bộ áo quần còn tốt, mang ra cho ông. Ông kêu: “Chú cho nhiều quá, chiều về tôi sẽ cho lại thằng bạn đánh xe ngựa!”

Thêm niềm vui và làm vơi bớt khổ cho người, không có gì khó - nhất là không mất nhiều thời gian, không tốn kém gì. Chỉ cần có chút lòng lân mẫn quan tâm, chút sẻ chia tùy duyên tùy cảnh - là cả ta và người đều được an vui, lợi ích! “Thêm niềm vui & vơi bớt khổ” không mất công tìm kiếm ở đâu xa; tất cả đều ờ bên ta, trước mắt ta, gần gũi trong đời sống thường nhật mà mỗi khi thức dậy, mở mắt ra, ai ai cũng gặp, cũng thấy, cũng biết. Chỉ có điều, vì ta thơ ơ, sống vội, vô cảm - thì dù có “nhìn thấy cũng như không” thôi! Vì thế, hãy tự luôn nhắc nhở mình mỗi sớm mai khi thức dậy: “Sáng cho người niềm vui/ Chiều giúp người bớt khổ”, khi nhớ đến câu thơ “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Cho ta thêm ngày nữa đẻ Yêu Thương!”( Kahlil Gibran); là ta đã xứng đáng là người con Phật rồi!


         Trong thực tế đời sống, có vài trường hợp (không nhiều), có người khi quan hệ với bạn bè, chòm xóm, mọi người thì rất tốt. Luôn “cho người niềm vui & giúp người vơi bớt khổ”; nhưng với ông bà, cha mẹ, anh chị em - nhất mối quan hệ vợ chống, lại không được như vậy! Họ chưa có đủ sự quan tâm, cảm  thông, chia sẻ đúng mực; hay không cho là điều quan trọng mà mình cần làm, phải làm, trước khi thực hành với mọi người chung quanh! Đây là một nhận thức rất nguy hại, có ảnh hưởng không tốt cho nhân cách đạo đức của mỗi con người; làm tổn thương sự an tịnh cần có trong cuộc sống Đạo, bởi vì, “không thương yêu giúp đỡ những người thân yêu ruột thịt của chính mình, thì có thể  yêu thương giúp đỡ ai thật lòng?”

         Tuy vậy, trong cuộc sống nhiêu khê, phức tạp - vẫn có nhiều trường hợp - vì nhiều lý do riêng, ta không có cơ hội “cho niềm vui, và làm vơi bớt khổ” được cho ai, thì hãy luôn ghi nhớ, chớ nên tạo nỗi buồn và nỗi khổ thêm cho người! Đó là điều mà những người học Phật cần tâm niệm và thực hành hằng ngày trong đời sống, để được đời nầy An lành, đời sau Hạnh phúc vậy!



ĐỖ HỒNG NGỌC ** chân không


 Kết quả hình ảnh cho tà dôn phan thiết

 Gửi Nguyễn Bắc Sơn

Thơ ngươi hào khí ngất trời
Hơi men ngất đất hơi người ngất ngây
Từng phen ta đọc mà cay
Thương người thơ sống một đời cực Đông
Một gùi đầy ắp chân không
Lênh đênh xuống núi giữa mênh mông người…


 Đỗ Hồng Ngọc

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

TRẦN VẤN LỆ ** Vĩnh Biệt Nguyễn Bắc Sơn


Mỗi lần qua Tà Dôn tôi nhớ Nguyễn Bắc Sơn.  Bây giờ Sơn không còn, Tà Dôn còn sừng sững…



Coi như ngày gió lộng, Nguyễn Bắc Sơn ra đi, chỉ thấy bụi bay về dài theo quốc lộ một…



Tà Dôn vẫn còn sót những đám mây ngày xưa, hồi đó Sơn làm thơ gửi cho tôi, Thiện Giáo…




Năm sáu tám (1968) rào rạo tiếng cuống rạ cuối mùa. Tôi đọc những bài thơ, âm thầm rồi xếp cất…



Thơ của Sơn hay thật…nhưng mà như lạc loài, tội nghiệp những người trai hành quân, vào động đĩ…



Năm bảy hai (1972) có thấy tập thơ Sơn ra đời (*), tôi có cuộc chuyển dời:  về trường xưa lớp cũ…



Cuối cuộc đời quân ngũ, Sơn và tôi xa nhau, đến khi vào Sông Mao, hỏi thăm Sơn, không thấy…



Tôi nghĩ Sơn đã chạy về cõi nào thật xa.  Thôi, trong cõi ta bà, đứa nào giữ hồn nấy…



Đỉnh Tà Dôn, núi ấy, mỗi lần tôi đi qua kiếm đường ra biển xa, nhớ Sơn, không đứng lại…



Tôi đi và đi mãi, mới nghe tin, tin buồn:  Sơn đã lìa cõi dương, Sơn ngàn Thu yên ngủ…



Từng câu thơ, những dấu chấm chấm…tôi chào Sơn.  Nếu còn ngang Tà Dôn, tôi chào Sơn như vậy…

Trần Vấn Lệ

(*) Tôi chưa hề gặp Nguyễn Bắc Sơn lần nào trong các năm 1967, 68, 69; lúc đó tôi đóng quân ở Thiện Giáo, mật khu Tam Giác, Nguyễn Bắc Sơn thuộc Sư Đoàn 23, ban Tiếp Liệu, căn cứ chính ở Sông Mao, hậu cứ ở đồn Trinh Tường (Phan Thiết).  Sơn chơi thân với em rễ tôi, Phạm Thụy Cầu, làm việc ở Phòng I Tiểu Khu Bình Thuận.  Hễ về Phan Thiết công tác thì Sơn hay ghé nhà tôi ở chơi với em tôi, tôi không có dịp nào về phép để gặp Sơn dù có cả tháng tôi nằm ở Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch.  Năm 1972, Sơn gửi lên Đà Lạt tặng tôi tập thơ đầu tay, Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi, tôi đọc mà buồn buồn, nhiều người như Doãn Quốc Sỉ, Võ Phiến, Chu Tử…“ca ngợi” Sơn, tôi hồi âm cảm ơn và cũng khen cho phải đạo.  Khi tôi đi Cải Tạo, hơn một năm đầu ở trại Sông Mao, trại G 3, Tổng Trại Tù Binh 8, hỏi thăm Sơn không thấy…vì Sơn không thuộc diện phải đổi đời.  Tôi nhớ Sơn nhiều lắm qua những địa danh Sơn hay nhắc trong thơ, đại đội 2/300 của tôi từng đóng đồn Sara dưới chân núi Tà Dôn, bị xóa sổ vì thất thủ năm 1967 khi tôi chưa đáo nhiệm.  Đại Đội tôi thường phối hợp hành quân với ĐĐ 2/754 đóng ở Nora, cũng dưới chân núi Tà Dôn.  Đại Đội tôi cũng có khi phối hợp với ĐĐ 2/442 đóng ở Kim Ngọc, gần Sara.  Trên đường công tác của Sơn thì hoặc bằng trực thăng băng qua đỉnh Tà Dôn hoặc bằng ghe đi dọc bờ biển ra Phan Rí Cửa (nhiều năm trước 30 – 4 – 1975, con đường Quốc Lộ I bị cắt).  Núi Tà Dôn ở phía Bắc Phan Thiết, phía Nam có núi Tà Cú, năm 1955 Tổng Thống Ngô Đình Diệm (từng làm Tuần Vũ Bình Thuận thời Pháp Thuộc) quyết định cắt tỉnh Bình Thuận ra làm hai, phần có núi Tà Dôn là Bình Thuận, phần có núi Tà Cú là Bình Tuy, nghe nói tại Tổng Thống Diệm không thích một vùng đất có hai ngọn núi Tà.  Từ năm 1980, em rễ tôi, Phạm Thụy Cầu nằm một chỗ sau tai nạn lao động, ở Đà Lạt, Sơn có hỏi thăm…Sơn mất ngày 4 tháng 8 năm 2015 tại Phan Thiết, tôi thấy có nhiều người phân ưu, tôi thì chỉ có bài thơ Vĩnh Biệt Nguyễn Bắc Sơn, gói ghém một chút tình xưa dù chưa hề giáp mặt.

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

HOÀNG LONG HẢI * Hát bội, hồn thiên cổ


Mẹ già cuốc đất trồng tiêu

Con theo hát bội mẹ liều con hư

(Ca dao)

Mẹ tôi là người mê coi hát.
Điều nầy có lẽ bắt nguồn từ tâm tính mẹ tôi. Mẹ tôi ưa ca, dĩ nhiên, ở thế hệ bà, mẹ tôi chỉ biết ca Huế.

Tôi còn nhớ khi tôi còn thơ ấu, nhiều đêm, nằm bên mẹ dưới giàn mướp ở cái vườn bên hông nhà, đôi khi mẹ tôi vẫn thường ca bài Nam Bình “Nước non ngàn dặm ra đi…” là bài ca nói về việc Huyền Trân Công Chúa lấy vua Chàm để đổi hai châu Ô, Rí hoặc bài “Kéo neo tầu chạy…” là bài ca do vua Thành Thái soạn ra khi nhà vua bị Pháp đày qua đảo Reunion bên Châu Phi.

Ngày xưa, di chuyển đường xa người ta thường dùng tầu thủy. Từ bến Sáu Kho ở Hải Phòng đi về Nam thì “Tầu Cờ-Lốt-Sáp trước khi nhổ neo, theo lệ thường, rít lên ba hồi còi. Còi rúc thật dài, hùng dũng bao nhiêu thì ai oán bấy nhiêu!” Có lẽ nhiều cô cậu học sinh hồi trước, nay các cô cậu ấy cũng đã sáu bảy chục tuổi, còn nhớ bài tập đọc nầy, trích trong cuốn tiểu thuyết “Tôi Là Mẹ” của Lê Văn Trương.
Tầu đưa vua Thành Thái đi đày bên châu Phi có lẽ cũng vậy! Ở bến Vũng Tầu, sau khi còi rúc ba hồi còi, neo được kéo lên để tầu quay mũi ra khơi. Tiếng giây neo kêu lẻng xẻng trên sàn tầu có làm cho lòng nhà vua đứt đoạn từng cơn? “Nước mất nhà tan!” Nay trên con đường lưu đày nơi chân trời góc bể, việc lấy lại nước chỉ còn là điều xa xôi tuyệt vọng, và cuộc đời lưu vong của một vị vua mất ngôi, cũng mịt mù như gió thảm mưa sầu. Còn có gì đau đớn hơn?!

Hồi ấy, tôi còn thơ ấu, chưa biết gì về nỗi đớn đau của một nhà vua yêu nước bị lưu đầy nơi xứ người. Ý niệm đó, có lẽ tôi chỉ thu nhận được sau khi học lịch sử về việc thực dân Pháp xâm lăng nước ta, và nhớ lại những lời trong bài Nam bình do mẹ tôi ca, mà thấm thía thía hơn về nỗi u hoài của mọi người, của dân tộc và của nhà vua trong thân phận một nước nô lệ.
Có lẽ cảm nhận sâu săc nhất của tôi hồi ấy, qua mấy bài hát mẹ tôi ca, chính là sự cách biệt vể giàu nghèo, về sự phân ly của những người yêu nhau nhưng không lấy được nhau:
Thân em như cái sập vàng
Thân anh như chiếc chiếu bên đàng bỏ đi!
Chiếc chiếu bên đàng, như mẹ tôi ca, là chiếc chiếu rách nát lắm, chẳng ai thèm dùng tới nữa, dù là kẻ ăn mày. Tuy nhiên, trong cảnh nghèo khó đến cùng cực, người con trai vẫn còn một mối hy vọng:
Lạy trời cho nổi gió lên,
Cho manh chiếu rách nằm trên sập vàng!

Gió nào mà nổi lên?! Gió nào có thể thổi cho chiếc chiếu rách nằm trên sập vàng? Có lẽ việc người ta trúng số độc đắc còn dễ hơn có cơn gió thổi cho chiếc chiếu bay lên… Lời ca của mẹ tôi về cảnh đau thương ấy làm cho tôi xúc động dài lâu trong cuộc đời thơ bé!
Khi mẹ tôi quá 50 tuổi, các anh chị em chúng tôi đã khôn lớn, có công ăn việc làm, có gia đình, chỉ còn mỗi một “Hùng móm”  đang học đại học thì anh chị em chúng tôi khuyên mẹ nên nghỉ việc, nên đóng cửa “Nhà hộ sinh” do mẹ tôi trông coi. Mẹ tôi cũng nghĩ mẹ tôi đã lớn tuổi, mắt đã kém, tay đã run nên thôi nghề để dưỡng tuổi già.
Ngoài việc ăn mặc, thú giải trí của mẹ là điều anh chị em chúng tôi cũng chăm sóc tới. Biết mẹ thích coi hát, khi những gánh cải lương lớn từ miền Nam ra lưu diễn, như gánh Hương Mùa Thu, Kim Chưởng, Thanh Minh Thanh Nga…, anh chị tôi đêm nào cũng mua vé cho mẹ đi xem. Biết mẹ mắt kém, anh chị tôi mua vé hạng nhứt cho mẹ.

Gánh hát bắt đầu chương trình lúc 9 giờ tối, 12 giờ đêm mới vãn, nhưng mới chiều hôm, chị giúp việc đã được anh chị tôi dặn trước, lo cơm nước cho gia đình ăn sớm để mẹ đi xem cải lương. Đứa cháu ngoại lớn nhứt của mẹ tôi, lúc đó mới mười tuổi, đêm nào cũng được đi xem với bà ngoại. Thằng bé trai đời nay mà mê cải lương là quê lắm, nhưng thằng bé mê xem hát không kém gì bà ngoại. Dù bị người trong gia đình chọc quê, khi trời mới tối, cơm nước xong, cậu ta đã thay áo quần sạch sẽ để được đi xem cải lương với bà. Mẹ tôi lại là người rất cưng cháu ngoại, nên bao giờ nó cũng được mẹ tôi bênh vực, khi nó bị ai cưòi chê.

Thế rồi có một gánh hát bội, gốc gác từ Quảng Nam, đến hát thường trực ở phường tôi.
Phường tôi phần đông là dân lao động, trình độ xem hát chưa được “văn minh” như dân ở phố. – dân phố thường chỉ thích xem cải lương -, nên số khán giả xem hát bội cũng không đến nỗi tệ, dù dân số trong phường không đông.
Anh Xạ Thử, theo cách gọi thông tục, chính là ông xã trưởng hay còn gọi là phường trưởng phường tôi, cho dẹp cái sân bóng chuyền bên hông trụ sở phường, cho lấy tôn bao cái sân bóng lại, dựng thêm một cái sân khấu lộ thiên để làm nơi trình diễn cho gánh hát bội.
Mỗi đêm, khi trời sập tối là tiếng trống đại của gánh hát đánh thì thùng, giục giã khách tới xem. Ở cửa gánh hát, mấy ngọn đèn tròn được thắp sáng lên. Chen lẫn với tiếng trống là tiếng hát được phát qua loa những bài âm nhạc cải cách đã cũ, của những dĩa hát 78 vòng sản xuất khá lâu, hồi đầu thập niên 1950 như bài Kiếp Hoa, Giòng Sông Hát hoăc các bản ca cải lương của Út Trà Ôn. Những dĩa hát tuổi cùng thời, dĩa đã mòn, đôi khi kim cũng đã lụt nên tiếng ca nghe không được rõ. Dù vậy, những âm thanh đó cũng làm náo nức người dân lao động phường tôi. Họ hối hả đi xem hát, xem sớm, về nghỉ sớm để mai lại bắt đầu một ngày lao động vất vả khác.

Thời gian kéo dài suốt trong những tháng hè, gánh hát bội trở thành một niềm vui, một nơi giải trí cho dân trong phường, mặc dù khán giả không đông, giá vé không cao, cũng đủ nuôi sống đào kép trong khi mùa đông giá rét chưa tới.
Dĩ nhiên, mẹ tôi là một khán giả trung thành của gánh hát nầy.
Các anh chị tôi cũng đã “văn minh”, cải lương còn chưa muốn xem, chỉ thích ciné và kịch nói, nên cũng không thích gánh hát bội. Tuy nhiên, anh chị em chúng tôi biết đó là nguồi vui của mẹ, nên không ai lên tiếng bình phẩm gì, sợ làm mẹ mất vui.
Tôi cũng vậy, tôi cũng không thích hát bội, nhưng tôi biết hát bội đã từng có một vai trò lớn trong đời sống văn hóa dân tộc. Văn hóa nầy cũng đã mai một cùng thời gian, nhưng giá trị văn hóa của nó vẫn còn đấy, trong văn học sử. Giá trị đó là gì, nếu không phải là nó cổ vũ, vận động, thậm chí có khi dạy dỗ cho người Việt biết giữ gìn Trung Hiếu Tiết Nghĩa, được khai triển không ít trong các vỡ tuồng hát cũ. Đọc hay xem một vỡ hát bội, tôi có thể biết đôi chút về những tấm gương Hiếu Trung của đàn ông, con trai, hay Tiết Hạnh của người phụ nữ, nhưng bởi vì hát bội không còn phổ biến rộng rãi như xưa nên tôi hiểu rất mơ hồ về cách hóa trang và những hành động có tính biểu tượng trong các vỡ tuồng cũ.
Ví dụ, muốn mô tả một người đang cưởi ngựa, biểu tượng của nó là một người đang cầm một cây roi có tua. Người đóng vai cưởi ngựa co lên một chân, lấy cây roi vỗ vào cái chân đang co, là tượng trưng cho việc lên ngựa. Cho ngựa phi nước kiệu là lấy roi đánh nhẹ vào cái chân ấy. Hoặc roi đánh mạnh, đánh nhanh vào cái chân co, là biểu tượng cho việc phi ngựa nước đại, phi nhanh như trốn chạy. Nếu phía sau có một người cũng có hành động như thế, có nghĩa là người ấy cho ngựa đang đuổi theo kẻ trốn chạy phía trước.
Tuy nhiên, việc vẽ mặt, vẽ râu trong hát bội là một vấn đề phức tạp, khó hiểu, nếu không hiểu được những nguyên tắc căn bản trong cách hóa trang.

Bấy giờ, tôi đang dạy môn Văn Chương Bình Dân lớp Đệ Tam cho học sinh. Một tác phẩm (với tôi là bài giảng) bàn kỹ về văn chương bình dân, ngoài ca dao, tục ngữ, chuyện cổ tích, chuyện thần thoại, không thể thiếu các loại ca hát, kể cả ca Huế, hò, chèo và hát bội. Tài liệu về hát bội không nhiều, ngoại trừ vài bài báo như của ông Thân Văn Nguyễn Văn Quý, đăng lẻ tẻ trong vài tạp chí không dịnh kỳ, còn những tác phẩm bàn về văn chương bình dân, không có tác phẩm nào nói qua về hát chèo và hát bội, là một hình thái nghệ thuật dân gian nước ta.
Đôi khi, ngồi ăn cơm với mẹ, nghe mẹ tôi nói tới đào kép, ông bầu gánh, tôi muốn được gặp ông bầu nhưng chưa có dịp.
Thế rồi tình cờ một lần…
Môt buổi trưa, ông bầu gánh đến thăm mẹ tôi. Tôi khẩn khoản mời ông dùng cơm trưa với tôi, và một cách thành thật, tôi hỏi những gì tôi muốn tìm hiểu về hát bội.

Trước hết, tôi muốn xác minh lại hai chữ hát bội hay hát bộ. Vừa hát vừa làm điệu bộ hơn là hát bội. Chữ bội đi với hát thì không hợp nghĩa gì hết. Ông bầu gánh cũng không sao giải thích cho tôi hiểu tại sao gọi là hát bội mà không là hát bộ, nhưng ông lại khăng khăng cho rằng chữ bộ không thể biến thành bội được. Gia đình ông là một gia đình truyền thống hát bội. Nội tổ ông từng là học trò của ông Đào Tấn (1). Thân phụ ông cũng là một kép hát trước khi thành ông bầu. Chính ông cũng là người từng được gia nghiêm truyền nghề lại cho.
Ông khăng khăng cải với tôi rằng người theo gánh hát không thể là người có đời sống tình cảm lăng nhăng để người đời cho rằng “Con theo hát bội mẹ liều con hư.” Tuy nhiên, ông cũng đồng ý với tôi, việc coi khinh nghề hát bội là rất phổ biến trong cộng đồng người Việt, bởi vì trong hát bội, thiếu đào kép nên nhiều khi cha con, mẹ con phải đóng vai vợ chồng, một việc, – như ông bầu nói với tôi -, dù đau lòng, người hát bội cũng phải làm và cho rằng đó là một việc thương luân bại lý. Phải chi có những gánh hát lớn, đào kép đông thì việc ấy có thể tránh được. Đào kép cũng chịu ảnh hưởng tuồng hát, cũng biết Trung Hiếu Tiết Nghĩa nên đào kép  cũng giữ gìn đạo lý, không muốn làm bậy, làm sai. Tuy nhiên, chính họ cũng thường gánh chịu những nỗi bất công trong xã hội. Họ bị gọi là phường tuồng, con hát. Đào kép bị coi thường. Các cô đào đẹp và hát hay, vì tài sắc của mình, đôi khi bị tạo hóa ghét ghen, buộc phải gá nghĩa với các ông quan, những người giàu có. Chuyện bất công xảy ra, nhiều khi tại hóa công, tại sắc tài chi lắm để chịu số kiếp hồng nhan đa truân, bạc mệnh.

Nói tới lẽ huyền vi của tạo hóa, tôi không phải là người vô thần nên tôi không cải lý với ông bầu được.
Tuy nhiên, khi bàn tới việc hóa trang, là điều tôi lâu nay thường ao ước được biết thì phải nhận rằng hát bội có những quan sát và tạo hình hết sức biểu tượng, người xem khó phản biện được.
Ví dụ về việc vẽ mặt. Mặt mầu đỏ son là người anh hùng, hiếu trung tiết liệt.  Trong triều đình, những tên gian thần dua nịnh thì mặt được vẽ mầu trắng mốc. Những người mặt mốc thì không tốt bao giờ. “Trông lên mặt sắt đen sì” thì chính là mặt Từ Hải, bộc trực, nóng nảy, ngay thẳng, chân thực. Mặt mầu xanh là kẻ yêu ma, quỉ quyệt.
Mắt có tròng xéo là con nhà tướng. Mắt tròng đứng là võ tướng. Mặt tướng cướp Phong Lai phải vẽ nhiều đường rằn ri,
Mặt huệ nhãn là mặt có mắt ở trán, tức là người nhìn xa thấy rộng. Lông mày mũi mác là khách trượng phu. Mày đoản là kẻ gian xảo. Mày mầu đỏ như lửa là người nóng tính như Trương Phi. Râu 3 chòm, 5 chòm là người đôn hậu, trầm tỉnh. Râu đen xoắn là người dữ dằn. nóng nảy. Râu đen đỏ là người có tính khôi hài. Râu chuột là người nói năng tía lia, bọp chộp, chưa nghĩ đã nói. Râu đen cũng là râu kẻ nịnh thần. Râu bạc là tướng anh hùng. Râu đỏ là tướng phản phúc.
Đó là những điều tôi học được tại bữa ăn trưa với ông bầu gánh hát bội.
Thế rồi mùa mưa tới!
Gánh hát bội hát lộ thiên, chịu cảnh mưa gió thì đủ ăn làm sao được!?

Khi trời đổ cơn giông. Nếu mưa trước hay sau khi hát hơn nửa tuồng, đêm hát coi như xong, ông bầu khỏi phải trả vé lại cho khán giả. Nhưng nếu cơn mưa đổ tới khi hát được vài màn, phải vãn tuồng thì gánh hát coi như lỗ nặng. Vé hát được dành lại cho bữa sau.
Nhưng khi mùa mưa phùn gió bấc tới rồi, trời đất một mầu đen mù mịt, mưa phùn lất phất suốt ngày nầy qua ngày khác, mười đêm chưa hát được một. Trong cái giá rét của mùa đông giá, khán giả không thể trùm chăn ngồi giữa trời mà xem hát được. Đào kép cũng không hát nỗi trong cơn rét run lập cập. Tiếng trống đại của đoàn hát nghe thưa thớt dần, những ngọn đèn vàng leo lét ở cổng cũng mờ mịt trong màn mưa lạnh giá. Gánh hát càng ngày càng xơ xác, rầu rỉ và đào kép chịu cơn đói triền miên từ ngày nầy qua ngày nọ.
Mẹ tôi vốn là người từ tâm. Mặc dù không còn xem hát mỗi đêm, nhưng vì chỗ xem lâu trở thành quen, biết ông bầu và đào kép, trong những ngày mưa gió đói lạnh ấy, mẹ tôi thỉnh thoảng đến thăm họ.
Anh chị em chúng tôi, từ ngày trở nên khá giả, ít khi mặc áo quần cũ. Những cái quần tây hơi mòn ở mông bị bỏ ra. Những cái áo trắng ngã mầu cháo lòng bị đào thải, v.v… Những thứ cũ ấy, chúng tôi treo trong tủ, chờ khi có bà con hay người quen biết ở quê lên, cho họ đem về mặc. Chuyện ấy là thói quen thường xảy ra trong gia đình tôi từ bấy lâu nay.
Thế rồi những người bà con ở nhà quê chưa lên mà áo quần cũ ấy không còn. Một hôm anh tôi hỏi to:
– “Mấy đứa bây (tức là mấy con ở) có thấy cái áo trắng trong tủ nầy đâu không?”
Không đứa nào trả lời. Cũng chẳng ai hoài công đi tìm một cái áo cũ tự nhiên biến mất.
Và những cái áo cũ, quần cũ ấy cứ tự nhiên biến mất “một cách bí mật” như thế?”
Thế rồi lại một hôm thùng gạo vơi nhanh đi một chút.
Chị dâu tôi là người hết sức tinh tế. Sự thay đổi chút ít trong bếp núc khó qua mắt được chị. Nên thế rồi chị kêu ngay một con ở, một con ở hết sức “thân cận” của mẹ tôi, để “điều tra” (như chị khoe sau nầy).

Con ở “thân cận” với mẹ tôi là là một con nhỏ Tây lai. Có lẽ trong một trận càn nào đó hồi “chống Pháp”, mẹ nó bị một tên lính Pháp hiếp dâm, và cái oan nghiệt, chính là sự xuất hiện của nó, một con bé mắt xanh mũi lỏ, khá đẹp, nhưng lạc loài trong một làng quê, toàn bọn con nít da vàng mũi tẹt. Có thể nói rằng con bé bị kỳ thị. Nó trở thành một đề tài để bọn trẻ trêu chọc sự khác biệt của nó trong một đám trẻ da vàng chưa quen với với nếp sống văn minh để có lòng vị tha.
Do một sự tình cờ nào đó, người mẹ bất hạnh của con bé biết mẹ tôi, và từ dưới làng quê, người đàn bà quê mùa ấy lên phố gặp và nói với mẹ tôi “Xin mệ (mệ là bà nội hay bà ngoại, tiếng quê tôi), nuôi giùm con tui làm phước. Mệ có cho nó ít tiền công hay không cũng được! Nó không ở được với con nít trong làng, với cả cha nó nữa, coi nó như cái gai.” Mẹ tôi chịu nuôi đứa bé lai. Con nhỏ hơn mười tuổi, khá đẹp, mẹ tôi rất thương. Nhưng hình như quen với cái cảnh cam phận ở làng, nó thường thui thủi một mình, ít chuyện trò với ai. Công việc thường nhựt của con bé ở nhà tôi là nhổ tóc bạc cho mẹ tôi, mặc dầu mẹ tôi hói trên đỉnh đầu đã nhiều, dọn cơm cho mẹ tôi ăn và mẹ tôi sai vặt. Vốn thông cảm hoàn cảnh nó, lại thấy con nhỏ thường thui thủi một mình, mẹ tôi càng thương và gần gũi nó hơn.
“Nắm vững tình hình” như thế, chị dâu tôi “điều tra” ngay con nhỏ:
– “Mệ lấy gạo phải không?”
Con nhỏ thật thà, không dám che dấu cho mẹ tôi, vừa khóc vừa gật đầu.
Chị dâu tôi không nói ngay mẹ mặc dù chị biết mẹ tôi lấy gạo đem cho ai đó ở gánh hát bội. Bà lập ngay một “liên minh”, đem chuyện mẹ tôi lấy gạo với bà chị cả tôi. Dù gì, là con ruột, chị tôi nói chuyện thẳng với mẹ tôi dễ hơn.

Ở miền Trung phải mua gạo từ miền Nam chở ra. Mưa gió tới, giá gạo cao vì giá vận chuyẻn cao hơn. Theo báo chí, kể từ khi “Việt Cộng Đồng Khởi” trong Nam, nhiều vùng nông dân bắt buộc phải đóng thuế nông nghiệp cho Việt Cộng, việc thu mua gạo khó khăn hơn, cũng vì “phải đóng thuế cho Việt Cộng” nên giá gạo tăng nhanh. Đó là lý do chính khiến bà chị tôi hỏi mẹ:
– “Má lấy gạo cho người ta phải không?”
Mẹ tôi không trả lời.
Chị tôi nói tiếp:
– “Gạo bữa ni cao lắm!”
Mẹ tôi nói nhỏ, hình như mẹ tôi hơi ngượng:
– “Người ta sinh mà không có ăn con à! Chẳng thà má nhịn ăn!.”
Anh tôi cũng “tham gia”. Trong bữa ăn, anh tôi nói, gay gắt:
– “Má có lấy gạo cho ai, phải hỏi vợ tui đã!”

Hôm đó, như thường lệ, mẹ tôi ít ngồi ăn chung với con. Mẹ tôi gồi bên cạnh, trên cái rương xe (2). Tôi thấy mẹ tôi quay mặt nhìn ra đường, rồi lấy tay áo chùi nước mắt. Mẹ tôi khóc. Tôi thấy thương mẹ. Mẹ tôi giàu lòng thương người.
Sau đó ít lậu, tôi thấy mẹ tôi thường hay lên phố. Chị tôi nói với tôi: “Má đi chích thuốc cho người ta!” Biết vậy, một buổi chiều đi dạy về, ngồi với mẹ. Nhân lúc mẹ tôi hơi vui, tôi nói:
– “Má bỏ nghề rồi, còn đi chích thuốc cho ai làm chi? Má cần tiền lắm à?”
Tôi hỏi câu ấy vì có lý do riêng tôi. Tôi đi dạy đã nửa năm nay. Cuối tháng, lãnh lương xong, tôi đưa hết cho mẹ. Cần tiêu gì, tôi xin lại.
Mẹ tôi nói:
– “Mấy bà thường đau bệnh phụ khoa. Má chỉ cho họ cách điều trị. Ai nặng lắm thì chích trụ sinh. Chích ở vai, má còn làm được.”
– “Lỡ chích “ven” thì sao?” Tôi hỏi.
– “Chích “ven” thì kêu y tá. Má không chích “ven” được. Mắt má kém!”
– “Nhưng má cần tiền làm chi? Con đưa hết lương cho má mà!”
– “Má để dành cho con. Tiền má kiếm được, má cho mấy người ở gánh hát. Họ đói lắm.”

Việc làm từ thiện nhỏ nhoi của mẹ tôi không cứu được gánh hát bội đang hồi tan rã giữa mùa mưa gió. Một hôm đi ngang chỗ gánh hát, tôi thấy một phần tôn che phía sau bị tháo gở. Đào kép dùng tôn đó để che thành những cái mái nhỏ, thấp. Họ sống chui rúc trong những mái tôn đó, trông qua cũng biết họ quá nghèo.
Thế rồi mẹ tôi nghỉ việc hẵn, không đi lên phố nữa. Đoán chừng gánh hát bội tan, tôi hỏi mẹ. Mẹ tôi nói:
– “Ông bầu gánh trở về xứ, hy vọng vài năm nữa, dựng lại gánh hát mới. Đào kép thất tán cả. Má xin cho một người lên ở đợ với cô Lương – Cô Lương là bạn thân của mẹ tôi – Còn mấy người kia cũng bỏ đi hết, không biết đi đâu. Má không cứu được ai.”
Tôi giải thích cho mẹ:
– “Ngày nay, không ai còn thích xem hát bội nữa. Họ sống làm sao được. Đó cũng là cái nghiệp cầm ca của họ má à!”
– Đã coi là cái nghiệp thì họ trả đến đó là hết. Hết cái nghiệp nầy, qua cái nghiệp khác, đời đời kiếp kiếp, không bao giờ hết cái nghiệp được.”

Hết mùa đông năm đó, tôi không còn dạy học ở quê tôi nữa. Tôi xin dạy ở Huế, nhưng cứ mỗi năm, tết đến là nhằm mùa mưa phùn gió bấc, tôi về ăn tết với mẹ, với gia đình, đi qua chỗ gánh hát cũ, tôi thấy buồn khi nhớ đến gánh hát ấy. Tôi liên tưởng, nghĩ đến hát bội là một phần văn hóa của dân tộc. Nó đã bị đào thải, theo luật tiến hóa của nhân loại.
Tuy nhiên, vì hát bội là một phần văn hóa của người Việt, không ai dễ gì quên nó được. Cũng như cải lương ngày nay đang lịm dần vào cõi chết, người ta đã cố níu kéo nó lại, như níu kéo những hồn ma cũ, mong nó từ cõi âm ty sống lại được chăng?
Không chỉ đào kép mà còn những người mê coi hát như mẹ tôi nữa chi. Với lòng từ tâm, cũng như vì tính mê hát, mẹ tôi cũng đã từng cố níu kéo một gánh hát bội đang hồi tan rã.
Ngày nay, những gánh hát bội của hàng chục, hàng trăm năm trước, cùng với những người mê hát như mẹ tôi, đã ra người thiên cổ. Thiên cổ là cái chết, bao giờ nó cũng để lại một mối sầu cho những người đa cảm, không nói ra thì không ai biết được ai, như câu thơ của Chế Lan Viên vậy: “Sầu vạn cổ tim ta ai biết được!”
Cái thiên cổ ấy để lại một mối sầu man mác, mênh mông cho những ai từng yêu thương một nét văn hóa của dân tộc nay đã lụi tàn./

Hoàng Long Hải
(1) Đào Tấn, tự là Chỉ Thúc, sinh năm Ất Tị, (1845) quê ở Bình Định, mất năm 1907. Sinh thời, ông làm thơ, và soạn tuồng hát bội. Ông được xem là ông tổ hát bội của nước ta. Đào Tấn đã đậu cử nhân khoa Đinh Mão (1867) tại trường Bình Định, triều Tự Đức. Ông làm quan từ đời Tự Đức đến đời Thành Thái (1871 – 1904), qua các chức vụ Tham biện, Phủ doãn, tổng đốc, thượng thư, hàm nhất phẩm, được phong Hiệp biện Đại học sĩ, tước Vinh Quang tử.
(2) Rương xe: Cái rương lớn, làm chỗ ngủ được, có bánh xe để di chuyển, thường dùng ở thôn quê./