Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2016

ĐẠO DIỄN VÀ MỸ THUẬT SÂN KHẤU - Từ góc độ của người làm công tác mỹ thuật sân khấu để nhìn công tác đạo diễn

ĐẠO DIỄN VÀ MỸ THUẬT SÂN KHẤU
(Từ góc độ của người làm công tác mỹ thuật sân khấu
để nhìn công tác đạo diễn)
Tôn Hạo Nhiên

Tính mật thiết của mối quan hệ giữa đạo diễn và người làm công tác thiết kế sân khấu, không thể phân chia theo tính chất, có thể từ bốn phương diện mà nói cho rõ.
Trước hết, mục tiêu công tác của đạo diễn và nhà thiết kế sân khấu là giống nhau. Nhiệm vụ của anh ta là phối hợp với toàn thể cán bộ là vở diễn, thông qua sự tái tạo, đưa lên sân khấu một cách hoàn chỉnh và có hình tượng kịch bản văn học, đối mặt với khán giả. Nhà đạo diễn quá cố Tiêu Cúc Ẩn từng phát biểu trong tác phẩm “nghệ thuật đạo diễn” của ông: “Công tác đạo diễn không phải là ‘Vận chuyển’, cũng không phải là ‘sao lại’, không phải là ‘sao chụp nguyên tác’, không phải là ‘phiên dịch và in lại’, không phải là ‘giới thiệu’, cũng không phải là ‘bổ sung’, không phải là tổ chức diễn viên hóa trang và đọc kịch bản, không phải như thế, xa hơn, cũng không phải như thế. Công tác đạo diễn là xa hơn, quan trọng hơn, là loại nghệ thuật mang tính sáng tạo. Loại công tác mang tính sáng tạo này, sâu sắc huyền diệu, lại phức tạp. Nghệ thuật đạo diễn vừa là giúp người khác thu hoạch sản phẩm, vừa là sản phụ. “Anh ta giúp người khác thu hoạch sản phẩm, vì tác giả kịch phải thông qua sự sáng tạo của đạo diễn mới có thể thể hiện bằng hình tượng trên sân khấu, trước mặt người xem; anh ta là sản phụ, bởi vì nhân vật sống trước mặt khán giả và cuộc sống xuất hiện trên sân khấu, đã không phải là tác phẩm văn học của tác giả kịch, mà hoàn toàn là tác phẩm nghệ thuật do nhà đạo diễn sáng tạo.” Có người bảo loại sáng tạo này là nghệ thuật sáng tạo cấp độ 2, cũng có nghĩa không phải là loại nghệ thuật không phải phát triển một cách tự do tuyệt đối, nhưng muốn nói sao thì nói, chúng ta quyết không thể xóa nhòa tính sáng tạo của nghệ thuật đạo diễn. Nghệ thuật đạo diễn đã là loại nghệ thuật sáng tác cấp độ 2, vậy mỹ thuật sân khấu ra sao? Tương tự như thế, mỹ thuật sân khấu cũng là loại nghệ thuật sáng tạo cấp độ 2. Ở nó chức năng giúp người khác thu hoạch sản phẩm và sản phẩm cũng thuộc về công tác mang tính sáng tạo. Đạo diễn và nhà thiết kế mỹ thuật sân khấu có chung nhiệm vụ là miêu tả tư tưởng, tình cảm và hoàn cảnh cuộc sống trong kịch bản. Xưa nay, hiện nay, Trung Quốc và nước ngoài đều trải qua quá trình thai nghén nghệ thuật gian nan, phức tạp, và sâu sắc huyền diệu, để có hình tượng nghệ thuật phong phú, sinh động và giàu tình điệu, hiện lên trước mặt khán giả, làm cho công chúng khán giả thông qua thị giác, thính giác, cảm quan thứ 6 mà cảm thụ, suy nghĩ về những hình tượng đó, và đem lại cho chúng ta ý nghĩa nội hàm. Nói cách khác, thông qua thủ pháp nghệ thuật của chúng ta để tái tạo hình tượng nghệ thuật sân khấu, đã đem lại cuộc sống thứ hai cho kịch bản văn học. Nó phải điển hỉnh hơn, cụ thể hơn, có hình tượng hơn, sinh động hơn, giàu sức thuyết phục hơn và có sức cảm hóa nghệ thuật hơn trong kịch bản.
Nhà thiết kế mỹ thuật sân khấu và đạo diễn có chung nhiệm vụ trong quá trình sáng tạo cấp độ 2 lâu dài, phải có ngôn ngữ chung về nghệ thuật, có từ ngữ chung, có ước định ngầm giữa đôi bên. Đối với hình tượng cuối cùng của biểu diễn và mức độ cùng tình điệu mà nó mang lại, phải có cách nhìn nhận nhất trí. Điều này bảo đảm cho sự thành công của biểu diễn. Thực tiễn cho hay, khi đạt được tính nhất trí của nghệ thuật tập thể và tính hoàn chỉnh, thì kết quả hoàn toàn nằm trong tầm tay, có lẽ trải qua đấu tranh gian khổ mà có được, như vậy càng đáng quý hơn.
Thứ 2, cỗi nguồn sáng tác của đạo diễn và nhà thiết kế mỹ thuật sân khấu nên là chung. Triều đại Đường cách đây hơn 3 nghìn năm, ở Tô Châu có họa sĩ Trương Tảo từng nêu lên luận điểm, khi vẽ tranh thì bên ngoài phải đạt tới mức cực kỳ cao siêu, bên trong phải tới mức cỗi nguồn của tâm hồn. Luận điểm này có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của ngành vẽ tranh của Trung Quốc. Đây cũng chính là cuộc sống mà người nghệ sĩ sân khấu quên sáng tạo – cỗi nguồn mà từ lâu từng nêu lên. Chúng ta đều biết, “Tạo hóa” chính là tự nhiên, chính là cuộc sống, chính là khách quan, người thầy tạo hóa đương nhiên có nghĩa là đi theo cuộc sống, học tập đại tự nhiên. Nhưng đây chỉ là một mặt của sáng tạo nghệ thuật. Còn mặt khác thì phải “tới mức tâm hồn của con người”, nghĩa là phải nắm được tư tưởng tình cảm cần biểu hiện, bao gồm tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ và tư tưởng tình cảm của nhân vật trong kịch bản. Chúng ta sáng tác, không những phải hiểu được tư tưởng tình cảm của tác giả kịch khi sáng tác, anh ta muốn biểu hiện là cái gì? Ngoài việc tư tưởng làm nảy sinh một số cộng hưởng nào đó, trong đầu óc chúng ta còn phải nảy sinh hình tượng thị giác tương ứng, tận lực làm cho tình và cảnh chan hòa làm một. Trong sáng tác, chúng ta không thể đứng ngoài cuộc sống, không thể làm “người bàng quang” của khách quan. Điểm quan trọng là, chúng ta phải bám sát cuộc sống, mới có thể thể nghiệm nó tốt hơn, mới có thể lĩnh hội một cách thiết thực, mới có thể có cảm giác chân thực. Đạo diễn và nhà thiết kế sân khấu đều phải nắm vững qui luật và tình lý của cuộc sống. Thông qua sự sáng tạo cấp độ 2 mà làm xuất hiện nhiều hình tượng trên sân khấu, có lẽ “ý tứ lường trước được”, nhưng phải “ở trong tình và lý”, bằng không thì không thể thuyết phục và tác động đến người khác.
Ông Tiêu Cúc Ẩn còn nhấn mạnh thêm: “Đạo diễn và nhà thiết kế mỹ thuật sân khấu, không chỉ hợp tác với diễn viên, mà sự hoàn chỉnh của hình tượng trong vở kịch và thiết kế sân khấu còn có mối quan hệ mật thiết. Hiện nay, biểu diễn, mỹ thuật sân khấu,sự hợp tác giữa biểu diễn, mỹ thuật sân khấu và nội dung tư tưởng của kịch bản không khăng khít mấy, trách nhiệm thường thường là tại đạo diễn.” Ở đây ông không những chỉ rõ sự hợp tác của 3 khâu đạo diễn, diễn viên và mỹ thuật sân khấu có tính quan trọng đối với việc sáng tạo hình tượng hoàn chỉnh của sân khấu, mà còn nhấn mạnh trách nhiệm của đạo diễn. Đạo diễn tựa như người chỉ huy của dàn nhạc giao hưởng, anh ta phải là người diễn tấu của mỗi loại nhạc cụ, các thanh âm phải có sự hợp tác một cách chặt chẽ, mới có thể thông qua sự chỉ huy của anh ta, khiến hình tượng âm nhạc được thể hiện một cách trọn vẹn về phong cách, tình điệu và nội dung tư tưởng, tình cảm của tác phẩm nhạc giao hưởng. Tuy nhiên, thành công hay thất bại của biểu diễn, người chỉ huy (hoặc đạo diễn) phải chịu trách nhiệm chính. Nhưng mỗi nghệ sĩ tham gia sáng tạo cấp độ 2, cũng đều có trách nhiệm mà anh ta cần gánh vác. Đây là do bản chất của nghệ thuật tập thể từng tạo nên. Chúng ta cần nhận ra là cho đến nay, người nghệ sĩ mỹ thuật sân khấu đã không còn là “người cung ứng” của một số hình tượng sân khấu nào đó, anh ta đã trở thành “người tạo hình của biểu diễn kịch” đích thực. Mà trong quá trình tạo hình, mối quan hệ giữa anh ta và đạo diễn là hết sức khăng khít, không thể thiếu một. Đồng thời, chức năng của nhà mỹ thuật sân khấu và đạo diễn là như nhau, anh ta cũng là “người giải thích” kịch.
Không những thế, nhà mỹ thuật sân khấu có thể thông qua hình tượng “cảnh” để trực tiếp hoặc gián tiếp “nói chuyện” với khán giả, thể hiện hàm nghĩa kịch trước khán giả, về điểm này, tác dụng của anh ta lại giống như công tác của diễn viên và đạo diễn.
Thứ 3, đạo diễn, nhà mỹ thuật sân khấu đều là những người có mối quan hệ qua lại với hình tượng. Chúng ta đều là những người từ góc độ hình tượng mà tiến hành công việc. Chẳng hạn, chúng ta phải từ góc độ hình tượng mà tiến hành nghiên cứu và đọc kịch bản. Trong quá trình tiếp xúc với kịch bản, mỗi giờ mỗi phút, trong đầu óc phải “trải qua điện ảnh; chúng ta phải từ hình tượng mà nhận thức nhân vật, tiếp cận nhân vật; chúng ta phải từ hình tượng mà cảm thụ không khí và tình điệu; chúng ta phải dùng ngôn ngữ hình tượng chính xác nhất mà diễn đạt cảm thụ thiết thân của nhà nghệ thuật”. Hình tượng của người sáng tạo trước tiên phải trung thực, tức cảnh sinh tình, mới có thể lấy cảnh mà cảm động người khác, lấy tình mà làm cảm động họ. Làm người sáng tạo nghệ thuật nếu mất năng lực tư duy hình tượng, sẽ khó làm nổi chuyện gì. Bê lin xki từng phát biểu; nghệ thuật là thuộc tư duy hình tượng. Tư duy hình tượng chính đồng nghĩa với hai từ hình tượng mà chúng ta thường nói. Thế kỷ III trước công nguyên (sau thời Chiến Quốc), nhà triết học nước ta Hàn Phi Tử từng nói đến hình tượng trong bài văn có đầu đề “Giải lão”. Ông bảo: “Có người muốn thấy hình tượng, mà hình tượng là cốt lõi, phương án do suy ngẫm mà sinh ra, cho nên có người cho rằng ý tưởng sinh ra hình tượng.” Trong cuộc sống hiện thực, các nhà sinh vật học cổ đại chẳng đã làm thế là gì? Trong quá trình khảo cổ, họ phát hiện ra bộ xương hóa thạch của khủng long, họ chỉnh lý nó, lại dựa vào bộ xương hóa thạch mà sắp xếp vật thực, khiến bộ xương khủng long được phục hồi nguyên dạng, vẽ thành hình trạng của khủng long. Người ta bằng vào hình trạng của khủng long để tưởng tượng hoàn cảnh sống của loài khủng long thời hoang sơ cách đây hàng vạn năm. Đạo diễn chúng ta, nhà thiết kế mỹ thuật sân khấu trong quá trình sáng tạo, trong lòng phải có “hình tượng”, trong tay phải có “bộ xương”, cũng chỉ có dưới tiền đề ấy, mới có thế mở ra đôi cánh tưởng tượng.
Tư duy hình tượng bao gồm 3 bộ phận tạo thành.
1 – Ký ức tình cảm – tức ký ức tình cảm được không ngừng tích lũy trong cuộc sống. Nó bao gồm hình tượng đặc biệt và phản ứng đối với hình tượng lúc đó, hoặc nói là sự phản ứng tình cảm trong hoàn cảnh đặc biệt.
2 – Mối liên hệ của cuộc sống – bao gồm mối liên quan trực tiếp đối với cuộc sống và thông qua văn học, phim ảnh, văn vật, vô tuyến, điện ảnh mà có mối liên hệ gián tiếp.
3 – Tưởng tượng – Giorki từng nói: “Tưởng tượng, về cơ bản cũng là tư duy đối với thế giới, là tư duy nghệ thuật.”Chúng ta nên bằng vào sự tích lũy cuộc sống bình thường, vào ký ức tình cảm và hoàn cảnh quy định mà kịch bản cung cấp, để tiến hành tư duy nghệ thuật, tiến hành tưởng tượng. Đương nhiên, địa bàn tưởng tượng là vô cùng rộng rãi, có thể lên trời xuống biển, lấy xưa dùng nay, bao gồm “hình trạng của vô hình trạng, hình tượng của vô hình tượng”. Nhưng trong tư duy nghệ thuật, còn có vấn đề thu nhận là quan trọng nhất. Hình tượng xuất hiện trên sân khấu phải được tuyển chọn một cách kỹ lưỡng, nó không tách rời cấu tứ của đạo diễn, cũng phải phù hợp với đường đi riêng của kịch bản và của nhà thiết kế mỹ thuật sân khấu. Do đó, trong hình tượng nghệ thuật còn tồn tại vấn đề thu nhận cái gì, bớt cái gì, có nghĩa đề cập đến phạm trù tư duy lô gic. Khi chúng ta nhấn mạnh tư duy nghệ thuật, chúng ta quyết không thể xem nhẹ tính quan trọng của tư duy lô gic. Tác dụng của nó không thể thiếu trong quá trình sáng tác nghệ thuật. Qua thực tiễn sáng tác trong nhiều năm, chúng ta hiểu được mối quan hệ giữa tư duy hình tượng và tư duy lô gic, nói một cách có hình tượng, nó giống như mối quan hệ giữa cây bí ngô trồng trên núi Tra Sơn và cây trúc quân tử trồng trên núi Bả Sơn. Không có Tra Sơn (tư duy hình tượng) đường nhiên sẽ không thành bí ngô có đường, tương tự như thế, nếu không có cây trúc quân tử (tư duy lô gic), chỉ có mỗi trúc quân tử trồng trên núi Tra Sơn cũng không thành bí ngô có đường! Mối quan hệ giữa hai loài cây là như thế, phải có cả hai, không thể thiếu một.
Muốn phát huy uy lực của tư duy hình tượng, trước tiên phải “bám sát cuộc sống”, thuần thục cuộc sống, vả lại, còn phải có sự tu dưỡng nghệ thuật rộng rãi, hiểu biết các bộ môn nghệ thuật an hem, như văn học, thơ ca, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, điện ảnh v.v. Phu lia Han nốp từng phát biểu: “Tư duy hình tượng của nhà nghệ thuật, phải lấy tri thức uyên bác của cuộc sống hiện thực làm chỗ dựa.” Đây là lời nói rất thành thật. Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, chúng ta đương nhiên không thể tách rời tư duy hình tượng, nhưng điều quan trọng hơn, chúng ta phải tuyển chọn, mỗi hình tượng được gia công, đều phải mang tình cảm của người sáng tác, thể hiện được thái độ yêu ghét của anh ta, cũng chính là tính khuynh hướng mà chúng ta thường nghe nói. Sáng tác nghệ thuật không mang tính khuynh hướng, thực ra là không tồn tại.
Khi sáng tạo hình tượng nhân vật sân khấu, vô luận là diễn viên, hay đạo diễn hoặc nhà mỹ thuật sân khấu, đều phải kết hợp với hoàn cảnh khách quan của nhân vật, không khí thời đại mà suy nghĩ vấn đề. Cần tưởng tượng là nhân vật lúc nhìn thấy cái gì, tiếp xúc với cái gì, sự phản ứng về tình cảm của anh ta, sự biến đổi về hành động là gì. Đoàn Nghệ nhân Bắc Kinh biểu diễn vở kịch của Sếch xpia với tên vở là “Mời chàng vào phòng”, trong đó có mấy cảnh đều dùng chữ “giá”. Chữ “giá” cao lớn hơn chữ thập gấp mấy lần, nó được treo giữa không trung sân khấu, còn hình ảnh chữ thập thì treo ở bức tường bên cạnh cao tới 1,4m. Nó đem lại cảm giác không khí thời đại của thời kỳ Châu Âu thế kỷ 16, và đối với tầng lớp người giả đạo đức mà nói, đây là sự so sánh thật rõ ràng, sự châm biếm mạnh mẽ, điều này khiến mức độ kịch càng thêm sâu sắc, vả lại làm cho biểu diễn, bố cảnh và ánh sáng được kết hợp chặt chẽ, trở thành một chỉnh thể biểu diễn hoàn mỹ.
Nghệ thuật biểu diễn của Hý khúc nước ta có truyền thống lịch sử trên nghìn năm, cảm giác kịch tả ý của nó, không những được đông đảo khán giả tiếp thu, mà nguyên tắc tả ý của Quốc tế cũng được một số tác giả kịch nổi tiếng tiếp nhận. Trình thức hóa của diễn viên Hý khúc, biểu diễn mang giả định, đã được khán giả Trung Quốc thấu hiểu, thừa nhận, bởi vì về cơ bản, nó đạt được “muốn gì có nấy”, nói gì là đáp ứng được nấy. Những người làm công tác Hý khúc trong nhiều năm cũng lợi dụng điều này để thanh lọc hóa, đơn giản hóa sân khấu. Chẳng hạn, cái ghế ngồi được dùng trên sân khấu, không chỉ tiêu biểu cho cái ghế ngồi, mà còn thông qua sự kết hợp khác nhau, có thể làm cho khán giả liên tưởng đến đầu ngọn núi, đến cái cầu, đến chiếc giường nằm và cửa nhà giam v.v. Tương tự như thế, cái roi ngựa không phải tiêu biểu cho con ngựa, mà thông qua sự xuất hiện của chiếc roi ngựa, làm người liên tưởng đến sự tồn tại của con ngựa, cầm mái chèo trong tay, khiến người ta liên tưởng đến con thuyền, đến sự tồn tại của nước. Nguyên tắc của mỹ thuật sân khấu Hý khúc là có thể hư vô thì hư vô, lấy thực mang lại cái hư vô. Đương nhiên, hư và thực chỉ là tương đối. Suy cho cùng, những cái gì thì có thể hư, những cái gì thì có thể thực, đều phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm, chứng minh. Tóm lại, tính tả ý của nghệ thuật Hý khúc nước ta không thể mất đi, phong cách độc đáo của biểu hiện Hý khúc không thể mất đi. Nhưng thời đại đang phát triển, một số trình thức của truyền thống, một số đạo cụ đã không còn thích hợp với biểu diễn hiện đại, như thế thì phải thay đổi, phải phủi cũ thấy mới, phát huy ánh sáng mới, điều này yêu cầu sự nỗ lực chung của đạo diễn chúng ta, diễn viên, nhà mỹ thuật sân khấu, nhạc sĩ và nhà viết kịch.
Thứ 4, đạo diễn và người làm công tác mỹ thuật sân khấu phải nắm vững thủ pháp nghệ thuật “vị trí của kinh doanh”. Từ nguyên của “vị trí kinh doanh” bắt nguồn từ nhành vẽ tranh của Trung Quốc, nó là một trong 6 phép vẽ tranh, chủ yếu nói về chương pháp, vị trí, bố cục, bút pháp, mối quan hệ giữa hư và thực. Đành rằng tôi nói là bình diện sân khấu khác với bình diện hội họa. Hai cái đó là lập thể, mà cái sau là bình diện, nhưng chúng ta là những người làm công tác sân khấu phải nắm vững thủ pháp nghệ thuật “vị trí kinh doanh” trong không gian sân khấu. Đạo diễn đối với vị trí kinh doanh trên sân khấu, bao gồm địa vị tương đối trên sân khấu của diễn viên, việc ra vào sân khấu của anh ta, đường dây hành động và quan hệ chủ yếu, thứ yếu giữa các diễn viên, mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh sân khấu và các vấn đề tiết tấu biểu diễn, tiết tấu lên cao, xuống thấp. Điều mà nhà mỹ thuật sân khấu quan tâm thì bao gồm phạm vi hoạt động của diễn viên trên sân khấu, bao nhiêu nhân vật, vào từng cảnh kịch, họ ra theo hướng nào, có bao nhiêu người cần ngồi, bao nhiêu người cần đứng, sự to nhỏ của lớp kịch, mức độ nhanh chậm của tiết tấu, đồng thời lại phải suy nghĩ đến hoàn cảnh thời đại lúc sáng tạo, thể hiện không khí của mỗi lớp, tô đậm tình cảm của nhân vật, thể hiện không khí của mỗi lớp và thanh lọc hóa, mỹ hóa đối đồ họa lập thể sân khấu. Nói gọn lại, vị trí kinh doanh là đạo diễn, nhà mỹ thuật sân khấu, diễn viên đều có trách nhiệm chung, đặc biệt là giữa thời kỳ trù bị biểu diễn của mỗi vở kịch. Đạo diễn và nhà thiết kế sân khấu phải thường xuyên nghiên cứu vấn đề chung. Theo chỗ chúng tôi biết, ngành kịch của các nước Âu Mỹ hiện nay, phần lớn trước khi chuẩn bị biểu diễn vở kịch mới, tác giả kịch bản, đạo diễn nhà mỹ thuật sân khấu tổ chức thành một tổ chức công tác, từ khi tu sửa kịch bản đã cùng nhau thương lượng nghiên cứu, khơi gợi co nhau, đối với việc giải thích nhân vật, khai thác chủ đề, vị trí kinh doanh của sân khấu, hình thức và phong cách biểu diễn, đều phải tìm hiểu và thảo luận kỹ lưỡng để có sự nhất trí, những người phụ trách các bộ phận phải làm tốt công tác nghiệp vụ của mình, có thế mới có thể bảo đảm chất lượng của biểu diễn, mới có thể  khiến mỗi thành viên tham gia sáng tạo đều có “số”trung tâm (có “số” có thể giải thích là có hình tượng). Nhưng nếu chỉ dựa vào cá nhân đạo diễn thì chưa đủ, đối với tập thể sáng tác mà nói, trong thực tế, thường thường ở trạng thái vô số trung tâm.
Trong công tác, đạo diễn mà tôi tiếp xúc đại để chia làm 3 loại:
1 – Một loại là do vô số trung tâm mà làm việc với sân khấu, tất cả đều nghe thấy, tin tưởng, anh ta chỉ vùi đầu vào dàn dựng kịch, không thông suốt với các bộ môn biểu diễn, ai làm việc nây, cuối cùng là “thấy trên sân khấu”. Loại đạo diễn này tôi gọi là “vô vi nhi trị” hoặc là loại hình “quét tuyến trước cửa”, đương nhiên là rất ít.
2 – Loại đạo diễn thứ 2 là người kiên quyết chấp hành “đạo diễn trung tâm luận”, hoặc bảo nó là sự phát triển ác tính.
Công việc trên sân khấu đều do anh ta định liệu, bất kỳ ý kiến nào đều không thể lọt vào tai anh ta, độc đoán, tôi gọi nó là tồn tại, loại này cũng nên ít thì hơn.
3 – Loại đạo diễn thứ 3 là tương đối nắm được quy luật sáng tác nghệ thuật. Từ đó có thể làm việc theo quy luật nghệ thuật, đối với hình tượng biểu diễn, có cách suy nghĩ tương đối toàn diện, có thể phát huy được sở trường của tư duy hình tượng, trong suốt quá trình sáng tác có sự thương lượng với nhà mỹ thuật sân khấu, với diễn viên và tác giả kịch, quán triệt chế độ dân chủ tập trung, tạo thành tập thể biểu diễn đoàn kết, điều này có lời cho việc nâng cao chất lượng nghệ thuật biểu diễn. Tôi gọi các đồng chí này là đạo diễn của loại hình dân chủ. Đương nhiên, chúng ta mong rằng loại hình đạo diễn dân chủ này càng nhiều càng tốt.
Tóm lại, đạo diễn và nhà thiết kế sân khấu có nhiệm vụ chung là sáng tạo trên sân khấu một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh, có sức sống. Có người bảo mọi thứ trên sân khấu là giả. Đúng vậy. Nhưng chúng ta muốn thông qua cái “giả” chân thực của nghệ thuật để dẫn tới cái “thật” (chân thực của cuộc sống), thông qua hình tượng nghệ thuật giữa giống và không giống, khơi gợi sự liên tưởng của công chúng, từ đó đem lại cho họ sự hiểu biết cao sâu hơn, mới mẻ hơn, đẹp đẽ hơn.
Sự chân thực được chúng ta sáng tạo trên sân khấu, là do 3 nhân tố chủ yếu tạo thành. Nhân tố thứ nhất là tạo hình nhân vật trong vở kịch, chúng ta gọi nó là “hình nhân”, còn nhân tố khác là tạo không khí thời đại và tác động đối với hoàn cảnh cuộc sống, chúng ta gọi nó là “trạng vật”; nhân tố thứ 3 cũng nhân tố quan trọng, chính là thể hiện khơi gợi sự cảm thụ và kích động tình cảm, chúng ta gọi nó là “chữ tình”. Ba nhân tố trên nếu được kết hợp chặt chẽ, sẽ tạo thành biểu diễn hoàn chỉnh, nó chí ít làm cho khán giả xem được, hiểu được, nhận biết, cảm giác được cái đẹp.
Cuối cùng tôi muốn nói một chút về vấn đề Hý khúc sử dụng “cảnh”. Vấn đề nay đã xay ra tranh luận khá lâu, hiện nay, vẫn chưa được kết luận. Nhưng trong thực tiễn, lại xuất hiện 2 cực đoan, một phái kiên quyết bài trừ những thứ mà truyền thống để lại, trên sân khấu không cần cảnh và nên “thanh lọc”. Một phái thì kiên quyết dùng cảnh, thậm chí chất đầy “cảnh”trên sân khấu, tạo thành cục diện “kịch thì không đủ”“cảnh lại thừa”. Có diễn viên nói đúng: “Bố cảnh sân khấu thật trăm hồng nghìn tía, chỉ phải cái che lấp tài năng biểu diễn của diễn viên.” Cốt lõi là vấn đề sử dụng “cảnh”của Hý khúc ra sao để thích hợp với lối biểu diễn mang tính giả định và trình thức hóa. “Cảnh” được nói ở đây, bao gồm tất cả nhân tố trang sức (bao gồm hóa trang, phục trang, đạo cụ, bố cảnh và ánh sáng). Tạp kịch thời Tống Nguyên ở nước ta có nhân tố mỹ thuật sân khấu (“cảnh”).
Gần đây, tính nghệ thuật cao độ của phục trang Hý khúc nước ta đã được thế giới công nhận, chính trình thức 1 bàn 2 ghế mà chúng ta cho là “lạc hậu”, cũng được nước ngoài sử dụng. Loại thủ pháp “1 bàn 2 ghế” là tốt, nhưng đáng tiếc nó không được sử dụng trong Hý khúc, nhất là trong kịch hiện đại, nó không thể đáp ứng được yêu cầu của khán giả. Sân khấu Hý khúc chỉ dựa vào ca hát và động tác được trình thức của diễn viên, đã không thể hoàn thành 3 nhiệm vụ là hoàn thành hình nhân, trạng vật, trưc tình. Do đó, đòi hỏi “cảnh” phải gây tác dụng, trong đó phải kể là tác dụng của ánh sáng. Bởi vì nó là một trong những thủ pháp biểu hiện có hiệu quả nhất của “không gian bốn bức tường”.
Chúng ta quyết tâm kế thừa và phát huy truyền thống tả ý của nghệ thuật Hý khúc nước ta, phải tạo ra khí phách Trung Quốc, phong cách Trung Quốc, có thể đứng trong khu rừng nghệ thuật thế giới, chúng ta phải làm, nhất định làm được.
Thành Đăng Khánhdịch từ Bàn về nghệ thuật đạo diễn của Trương Trọng Niên, Cố Xuân Phương -  Nxb Hí kịch Trung Quốc, Bắc Kinh, 2004.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét