MỘT
SỐ VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ NGHỆ
THUẬT BIỂU DIỄN CẢI LƯƠNG CÔNG LẬP Ở ĐỊA PHƯƠNG
Trong
định hướng phát triển của sân khấu nước ta, vấn đề xã hội hóa đang được đặt ra
và trong quá trình thực hiện này, các đoàn cải lương ở các tỉnh cũng dần đi vào
quỹ đạo chung. Nhưng do đặc điểm riêng biệt của từng tỉnh, các đoàn này vẫn có
hướng tồn tại và phát triển
riêng.
Trong
thời kì hội nhập, hoạt động của các đoàn cải lương ngày càng khó khăn và những
đoàn làm ăn thiếu hiệu quả kinh tế lần lượt “teo tóp” và bị chuyển đổi, sát nhập
vào các với các nghệ thuật khác. Chẳng hạn như cải lương Vĩnh Phúc sáp nhập với
chèo, cải lương Quảng Ninh sáp nhập với Chèo để thành Nhà hát nghệ
thuật.
1.
Thực trạng tài chính của các đơn vị nghệ thuật biểu diễn địa
phương
Hiện
nay các đoàn sống được là nhờ nguồn tài trợ của tỉnh. Trung ương thì thỉnh
thoảng tài trợ, hay nói chính xác hơn là trong các dịp hội diễn toàn quốc mới
tài trợ, nhưng không phải đều khắp mà chỉ ở mức độ tượng trưng. Lãnh đạo tỉnh
nào “mặn” với cải lương thì mới được đầu tư khá, ngược lại thì các đoàn phải tự
bươn chải, kiếm thêm mà sống. Mức độ đầu tư của tỉnh cho các đoàn chỉ từ 1 tỷ–
1,5 tỷ đồng/ năm cho các khoản lương, dựng kịch bản mới, cho sửa chữa các trang
thiết bị và cho các suất hát phục vụ không doanh thu, bồi dưỡng nghiệp vụ, mở
lớp đào tạo diễn viên
trẻ…
Hầu
hết các lãnh đạo đoàn đều cho rằng nguồn kinh phí do tỉnh đầu tư không đủ để
trang trải hoạt động với phương thức “lấy thu bù chi” như hiện nay. Có đoàn khi
làm nghĩa vụ phục vụ (phục vụ không doanh thu) không được chính quyền tỉnh tài
trợ kinh phí nên anh em nghệ sĩ xuất tiền túi để làm nhiệm vụ cao cả
này.
-
Dựng mới mỗi năm từ 1 đến 2 kịch bản (bình quân mỗi kịch bản khoảng 300 triệu
đồng)
-
Sắm sửa mới trang thiết bị mỗi năm tốn khoảng 100 - 200 triệu
đồng.
Bồi
dưỡng nghiệp vụ đào tạo diễn viên trẻ mỗi năm tốn khoảng 50 triệu
đồng.
-
Trợ cấp các suất hát phục vụ không doanh thu (bình quân mỗi năm 100 suất, mỗi
suất khoảng 1,5 triệu đồng, ở TPHCM khoảng 3 triệu đồng. Như vậy phải tài trợ ít
nhất 500 triệu đồng mới sống được. Vậy mà hiện nay có đoàn được tài trợ nhiều,
có đoàn lại được tài trợ ít. Tài trợ như thế nào là do nguồn kinh phí ngân sách
của tỉnh cấp. Nhưng nhìn chung các đoàn cải lương ngoài Bắc được tài trợ kinh
phí nhiều hơn các đoàn trong
Nam.
2.
Vấn đề xã hội hóa đối với các đoàn cải lương biểu diễn công
lập
Cải
lương là một bộ môn nghệ thuật truyền thống của dân tộc cho nên khi đi vào vấn
đề xã hội hóa thì nhà nước chắc chắn sẽ ưu tiên lo cho các đoàn quốc doanh, luôn
luôn được định hướng chặt chẽ. Trong đó nổi lên hai vấn đề mấu chốt ràng buộc là
bao cấp hoàn toàn và hiệu quả trong phục
vụ.
Thông
qua xã hội hóa, các đoàn sẽ được nâng cấp về chất lượng hoạt động nghệ thuật.
Trên lý thuyết thì như thế, nhưng thực tại thì các đoàn vẫn phải tự lực cánh
sinh, sống nhờ nguồn tài trợ có giới hạn của chính quyền tỉnh. Do đó, về mặt
hiệu quả ở các đoàn chưa cao, khó lòng đòi hỏi các đoàn phải đạt được những chỉ
tiêu theo hướng chỉ đạo cụ
thể.
Trước
mắt khi về nguồn các đoàn đã làm hết sức mình trong điều kiện có thể để phục vụ
các tỉnh ở từng địa phương theo yêu cầu mỗi tỉnh. Điều đáng mừng là hầu hết các
đoàn đã thực hiện tốt yêu cầu chính trị, đến tận vùng sâu vùng xa để phục vụ bà
con nông thôn ngay cả trong thời điểm mưa lũ. Nhưng đó chỉ là một nửa công việc
bởi vì kịch mục các đoàn chưa phong phú, chưa có những kịch bản tầm cỡ mang tính
tư tưởng, tính giáo dục cao. Gần trong nửa số đoàn thiếu hẳn dàn kịch mục truyền
thống, mảng đề tài xã hội hiện đại. Có lãnh đạo đoàn cho rằng những loại cải
lương này khô khan, không có doanh thu. Có những đoàn dựng kịch mới với kinh phí
hao tốn, thời gian tập dượt và khả năng doanh thu thấp, nên họ thường xào nấu
vào những kịch bản cũ. Hoặc có khi mời các đạo diễn tên tuổi thì họ không đủ
tiền trả, thành thử họ đành “dùng tạm” đạo diễn của
Đoàn.
Hiện
nay, đội ngũ đạo diễn của cải lương phải nói là đông nhất và có đội ngũ kế cận.
Ngoài những tên tuổi lớn như: NSND Mạnh Tưởng, NSND Trần Ngọc Giàu, NSND Trần
Bạch Tuyết, NSND Giang Mạnh Hà…. Và lớp trẻ có Hoàng Quỳnh Mai, Triệu Trung
Kiên. Nhưng lực lượng này cũng không thể đáp ứng được hơn 20 đơn vị nghệ thuật
cải lương công lập. Do vậy, mỗi lần diễn ra liên hoan hay hội diễn, các đạo diễn
này đều phải “chạy sô” hoặc các đoàn mời các đạo diễn của kịch nói hoặc các bộ
môn khác sang dàn
dựng.
Ở
các đoàn nghệ thuật ở tỉnh hoặc ở những vùng Tây Nam bộ như: Cần Thơ, Bạc Liêu,
Cà Mau, Tây Ninh, dĩ nhiên các đoàn phải khó khăn hơn. Hầu hết các đoàn đều diễn
cho đủ chỉ tiêu trên giao - thường từ 80 đến 120 suất một năm, mỗi suất có chừng
100-200 khán giả đã là quý. Một số đoàn cải lương đang lâm vào tình cảnh bị xem
như là “gánh nặng” với địa phương. Mỗi khi đầu tư vở diễn mới các đoàn phải chạy
xin kinh phí, đời sống vật chất lẫn tinh thần của nghệ sĩ gặp nhiều khó khăn.
Những yếu tố đó làm nảy sinh tâm lý chờ Hội diễn để được đầu tư đàng
hoàng.
Ở
các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh còn có khán giả, còn ở địa
phương thì cuộc sống đã chật vật, làm gì có khán giả tự bỏ tiền túi đi xem cải
lương. Nhất là hiện nay, vô tuyến truyền hình tràn ngập khắp từng nhà. Thế nên,
chuyện bán vé ở các tỉnh lẻ khó thực hiện, có chăng mỗi tối cũng vài ba chục vé,
còn đa số là vé
mời.
Không
có khán giả thường xuyên, lại khó có dự án lớn, không dễ để nhận được đơn “đặt
hàng” của các doanh nghiệp, các
đoàn địa phương vẫn loanh quanh sống bằng kinh phí eo hẹp được tỉnh rót xuống
thôi.
Do vậy, nếu cùng
sáp nhập với nhau, nhân lực vẫn thế mà kinh phí rót xuống bị cắt bớt, nên tôi
chắc rằng đời sống của nghệ sĩ sẽ còn vấp phải nhiều khó khăn hơn. Chẳng hạn
trường hợp các đoàn nghệ thuật tại Vĩnh Phúc. Cách đây vài năm, Vĩnh Phúc sáp
nhập cả hai đoàn cải lương và chèo của tỉnh làm một, chuyển hướng thành một đoàn
chèo chung. Diễn viên cải lương khi nhập đoàn lại hì hục để thích ứng với sân
khấu chèo. Trộn chung hai loại nghệ thuật khác hẳn nhau vào một "rọ" như vậy,
bây giờ tình cảnh của đoàn đang chật vật lắm. Hay như Đoàn cải lương Quảng Ninh,
mấy năm trước độc lập thì có vở diễn tham dự liên hoan, hội diễn. Nhưng năm nay
vừa sát nhập với Chèo, thành thử cũng không có kinh phí dựng vở để tham dự Cuộc
thi sân khấu cải lương toàn quốc năm 2015.
Về
mặt bằng chung, hiện nay toàn ngành sân khấu đều nằm trong tình trạng thiếu vắng
khán giả, kinh phí trông chờ vào sự tài trợ của nhà nước, của tỉnh. Ngay cả các
đơn vị nghệ thuật trực thuộc Bộ ở thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh cũng vẫn phải
dựa vào kinh phí nhà nước là chính, còn phần xã hội hoá chỉ là phụ.Năm
2015, một loạt đơn vị nghệ thuật sẽ bị cắt giảm nguồn kinh phí Nhà nước cấp để
dần tiến tới việc tự hạch toán kinh doanh vào năm 2017. Nhà hát Tuổi trẻ, Liên
đoàn Xiếc Việt Nam, Nhà hát Nghệ thuật Đương đại Việt Nam là 4 đơn vị được chọn
thí điểm đầu tiên. Hầu hết các lãnh đạo của các nhà hát này đều băn khoăn lo
lắng là làm sao “tự bơi” trong cơ chế thị trường, hằng ngày
phải đối
mặt cùng chuyện “cơm áo gạo tiền”, thì liệu có đảm bảo cho ra lò những sản phẩm
có chất lượng nghệ thuật cao không? Khi đã tự nuôi nhau, tự hạch toán thu chi sẽ
dẫn tới việc các nhà hát phải xây dựng các chương trình đảm bảo doanh thu, đảm
bảo cuộc sống cho anh em cán bộ diễn viên của Nhà hát và thậm chí, chạy theo thị
hiếu của một bộ phận khán giả. Liệu rằng có còn giữ được truyền thống của Nhà
hát không?
Đành
rằng, vấn
đề tự chủ tài chính là một trong những yếu tố then chốt, quyết định sự thành bại
đối với mỗi đơn vị biểu diễn nghệ thuật công lập của các tỉnh, thành và của cả
đất nước. Cơ chế này sẽ quyết định hoạt động của các đơn vị nghệ thuật biểu diễn
được đầu tư bao nhiêu, từ những nguồn nào và đầu tư như thế nào để có thể đem
lại nguồn lực cho việc xây dựng và biểu diễn các chương trình nghệ thuật có chất
lượng cao và đạt được hiệu quả
tốt.
Nhưng
tự chủ - tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp biểu diễn công lập
hoàn toàn như thế nào để nó không nằm ngoài sự chi phối của pháp luật mà là tự
chủ - tự chịu trách nhiệm có điều kiện này được xác định bởi mối quan hệ giữa
nhà nước – xã hội và các đơn vị sự nghiệp biểu diễn công lập. Tự chủ tài chính
đối với các đơn vị sự nghiệp biểu diễn công lập, nó nhấn mạnh đến quyền tự do mà
Nhà nước, hay nói một cách đúng hơn là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã giao
cho các đơn vị sự nghiệp biểu diễn công lập từ mấy năm gần đây. Việc tự chủ - tự
chịu trách nhiệm ở một số đơn vị sự nghiệp biểu diễn công lập đã từng bước được
đề ra, có thí điểm, đánh giá và có hiệu quả. Nhưng băn
khoăn lớn nhất của các nhà hát nên chăng chúng
ta phải đẩy mạnh công tác xã hội hóa thì mới mong đời sống của anh em nghệ sĩ
tốt hơn lên. Đồng thời là cơ hội để vực dậy nền sân khấu đang trong tình trạng
yếu ớt như hiện
nay.
Tự
chủ trong các đơn vị biểu diễn nghệ thuật là một vấn đề khó, tự chủ tài chính
tại các đơn vị địa phương càng khó khăn gấp bội. Nhưng trong thời kỳ kinh tế,
văn hóa hội nhập quốc tế như hiện nay, nếu cứ bao cấp các đơn vị nghệ thuật như
trước kia, e rằng nghệ thuật phải “ăn đong”, chờ cơ chế ‘xin cho” của Nhà nước,
khó bứt khỏi cái vỏ bọc của mình vươn tầm ra thế giới. Nên chăng, Nhà nước nên
có cơ chế phù hợp để các đơn vị nghệ thuật của thủ đô thực hiện tự chủ tài
chính. Song, để các đơn vị này không rơi vào tình trạng vất vưởng, Nhà nước nên
có lộ trình khoảng 5 – 10 năm. Giai
đoạn 5 năm đầu thực hiện chuyển đổi cơ chế một số đơn vị nghệ thuật như ca múa
nhạc, nhạc nhẹ theo hướng xã hội hoá, theo xu hướng thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, nhưng về vấn đề tài chính Nhà nước vẫn cấp ngân sách 100% cho các đơn
vị này. Trong vòng 5 năm sau, khi cơ chế đã định hình, biểu diễn của nghệ sĩ
thích nghi với quỹ đạo của nền kinh tế thị trường, hoạt động biểu diễn đi vào ổn
định, thì để cho các đơn vị đó thực hiện tự chủ tài chính hoàn toàn, để tạo thế
cân bằng cho ngành và phù hợp với chủ trương của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
đến đầu năm 2020 các Nhà hát phải hoàn thành xã hội hóa, các đơn vị phải thực
hiện theo cơ chế đặt hàng tác phẩm, đặt hàng chất lượng nghệ thuật bằng các
chương trình do đơn vị mình tổ chức thực hiện, đồng thời thực
hiện quyết định của chính phủ về “Quy
hoạch tổng thể phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2012, định hướng đến năm
2030”.
Nguyễn Thị Thanh Vân
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét