Đạo
diễn, NSUT Tạ Tạo
-
người nặng lòng với nghệ thuật
Tuồng
Đạo
diễn Tạ Tạo là một trong những người “hiếm hoi” được đào tạo đạo diễn theo hệ
chính quy đầu tiên ở Liên Xô. Năm 1973, sau khi về nước, ông được điều về Đoàn
ca múa Hà Sơn Bình. Tại đây, anh lao vào dàn dựng hàng loạt các vở
kịch: Đôi mắt, Nhật kí người mẹ, Người con cô đơn… Đến năm
1977, sau khi trở lại Đoàn tuồng TW, Tạ Tạo như cá gặp nước, thỏa sức mình vùng
vẫy, ông cho ra đời hàng loạt các vở tuồng cả dân gian, lịch sử và tuồng hiện
đại theo một phong cách dàn dựng
mới.
Mở
đầu bằng tác phẩm Nghêu sò ốc hến. Đâylà một vở tuồng
đồ nổi tiếng đã được các đoàn nghệ thuật tuồng dàn dựng, nhưng ở đây đạo diễn Tạ
Tạo dựng theo một phong cách và chủ đề mới. Những nhân vật quan Huyện, Lý
trưởng, Trùm sò, Thày nghêu, Ốc và đặc biệt là vai Thị Hến không chanh chua,
buôn gian, bán lận, lừa lọc như những gì ta thường thấy trên sân khấu trước đây.
Thị Hến của ông xuất hiện với “tấm áo tứ thân, sống thanh bạch và nghèo túng.
Thị Hến đã vạch mặt lũ quan lại cường hào phong kiến bằng tất cả sự căm giận
nhưng lại rất khéo léo, tế nhị ở cái lớp kết thúc vở. Cả quan Huyện, thầy Đề, xã
trưởng bị bà Huyện, bà Đề vạch mặt ở dưới gậm giường của Thị Hến.”(1)
Nhận
thấy nghệ thuật Tuồng cần phải đổi mới, cách tân để phù hợp với thời đại. Đạo
diễn Tạ Tạo ngày
đêm suy tư và tìm tòi cho Tuồng một hướng đi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thị
hiếu công chúng. Ông đã
cùng với các họa sĩ Nguyễn Hồng, Lê Huy Quang, nhạc sĩ Nguyễn Viết hợp lực sáng
tạo ra hàng loạt vở diễn mới với hình thức mới, trong đó nhiều nhất là những vở
về đề tài hiện đại và nước ngoài như các vở: Người không mang
họ, Êđíp làm vua, Tarat Bum
ba…
Người
không mang họ vốn
là truyện dài của Xuân Đức được NSND Tiến Thọ chuyển thể Tuồng. Vở diễn xoay
quanh số phận của nhân vật chính Lãm - một chàng trai trẻ muốn sống lương thiện
nhưng gặp bao cảnh ngộ éo le, vừa thoát khỏi cảnh khốn khó này lại rơi vào cảnh
khốn khó khác. Cuối cùng Lãm ra nhập bọn du đãng và trở thành tên cầm đầu và anh
cứ sống một cách ‘thuận theo dòng nước’ như thế cho đến khi giải phóng mới thoát
khỏi cảnh đó, Lãm bị cảnh sát bắn bị thương và bị bắt. Ở vở diễn này, đạo diễn
Tạ Tạo đã phác thảo cho người xem thấy nhân vật Lãm - một kẻ lang thang chưa đủ
tuổi thành niên. Những đứa trẻ có hoàn cảnh như Lãm không phải là ít mà còn đầy
rẫy trong xã hội chúng ta. Nhưng Lãm là đại diện cho ngàn vạn đứa trẻ khác không
nhận được sự chăm lo, dạy dỗ chu đáo của gia đình nên trở thành lưu
manh. Người không mang họ có tiết tấu nhanh,
hấp dẫn từ đầu đến cuối và nói như nhà phê bình Từ Lương: “Vở diễn còn có sức
hấp dẫn với những lớp đánh võ rất khích động, đẹp mà vẫn tuồng, bởi đã tạo được
dáng vẻ, trình thức vốn có của tuồng.”(1)
Nhưng
tiêu biểu nhất cho đề tài hiện đại phải kể đến vở Hoàng
hôn đen.
Vở diễn là sự tiếp nối của những vở tuồng hiện đại trước đó: Má
Tám, Tình mẹ, Suối đất hoa... Hoàng hôn
đen đã gây được tiếng vang lớn tại Hội diễn sân khấu chuyên
nghiệp toàn quốc 1985. Vở tuồng phản ánh trực tiếp cuộc chiến tranh biên giới
Việt Trung. Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính Dìn
Số. Dìn
Số là người Hoa gốc Hán được bà con tín nhiệm, yêu quý, nhưng vì mắc lừa mưu kế
của bọn bành trướng, làm nhiều điều không phải với người Việt. Chỉ đến khi Dìn
Số cầm gói thuốc nổ, vừa mới định hãm hại người Việt Nam, thì mới biết bọn giặc
đã đốt nhà, hãm hại vợ con, gây cảnh em giết anh, cha giết con. Nhưng Dìn Số
nhận biết sự thật ấy quá muộn. Kết thúc truyện kịch, Dìn Số đã quay lại cầm gói
thuốc nổ ấy, ném xuống đầu lũ xâm lược, giết chết chúng, đồng thời kết thúc luôn
cả đời
mình.
Hoàng
hôn đen đã
diễn tả thành công đề tài mới, con người mới đúng như tác giả T.L khẳng định:
“Những người dựng vở biết tìm tòi chất liệu riêng cho tuồng. Cái thế thuận và
hay của tuồng là diễn tả các trạng thái, tình huống bi kịch. Vở
tuồng Hoàng hôn đen, có cốt truyện nổi bật… Chuyện kịch càng
diễn, nỗi đau của nhiều nhân vật, cũng là nỗi đau trong lòng người xem càng
thắt, càng căng. Nhân vật kịch lúc đối thoại, lúc độc bạch, được huy động, vận
dụng thể hiện.”(2)
Sau Hoàng
hôn đen, Tạ Tạo đã bắt đầu hình thành cho mình một phong cách diễn tuồng
mạnh mẽ, cuốn hút, sôi động. Ông đã kết hợp giữa thủ pháp ước lệ tượng trưng của
sân khấu truyền thống và những vấn đề hiện đại hôm nay để dàn dựng những vở
tuồng lịch sử theo một góc độ mới. Hai vở tuồng Tiếng thét giữa
hoàng cung và Lý Phụng Đình đã
dành hai giải A tại Liên hoan sân khấu toàn quốc năm 1990 là minh chứng cho điều
này. Trong vở Tiếng thét giữa hoàng cung, đạo
diễn Tạ Tạo đã nhấn mạnh sự lo lắng của Chu Văn An cho vận mệnh quốc gia đang bị
suy thoái bởi một ông vua bỏ bê việc triều chính, nghe lời xu nịnh để cho bọn
gian thần đắc ý. Chu Văn An đã quyết định dâng sớ “thất trảm sớ” đòi nhà vua xử
tội bảy tên gian thần để cho đất nước được bình yên. “Thất trảm sớ” là một tiếng
thét vang dội giữa hoàng cung khiến cho vua Trần tỉnh ngộ, bọn gian thần khiếp
sợ và đây cũng chính là điều đạo diễn muốn nhấn mạnh ở vở
này.
Không
dừng lại vở những tuồng hiện đại, đạo diễn Tạ Tạo lại thử sức ở những trích đoạn
mẫu. Hàng mấy chục trích đoạn mẫu của Nhà hát tuồng TW do ông cùng các nghệ sĩ
của nhà hát dựng lại ở nhiều góc độ. Bắt đầu từ gìn giữ vốn cổ
như: Thứ Phi học đàn, Đào Tam Xuân loạn trào, Nguyệt Cô hóa cáo,
Thanh Xà - Bạch Xà… rồi đến việc kế thừa những đặc trưng cơ bản của nghệ
thuật Tuồng truyền thống để dàn dựng những trích đoạn nổi
tiếng Ông già đi hội chuyển
thành Ngày xuân đi hội, Ngũ
biến chuyển thành Cô gái Xuân Trần, Tình
mẹ…
Từ
thực tiễn đến lý luận, đạo diễn Tạ Tạo không chỉ thử nghiệm dàn dựng thành công
những vở Tuồng theo phong cách hiện đại mà ông còn khẳng định hướng đi mới của
Tuồng bằng cách thử nghiệm việc hát ca khúc trong nghệ thuật tuồng cũng như
trong nghệ thuật biểu diễn múa tuồng kết hợp với võ dân tộc và nhào lộn; thử
nghiệm thành công việc chuyển thể kịch bản từ tiểu thuyết, truyện ngắn sang kịch
bản tuồng. Công trình nghiên cứu cấp Bộ Nghiên cứu việc cách tân
nghệ thuật Tuồng Việt Nam của ông hoàn thành năm 1999 là sự
tổng kết những suy tư của ông về nghệ thuật Tuồng. Trong đó, ông khẳng định:
“Muốn nghệ thuật sân khấu Tuồng tồn tại thì phải đổi mới, phải cách tân, sự đổi
mới cách tân này nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, để tạo
nên một sự thống nhất mới được thể hiện từ kịch bản văn học Tuồng cùng với những
đặc trưng, đặc điểm của hát múa, biểu diễn kết hợp với hội họa và âm nhạc… tạo
thành nghệ thuật sân khấu tuồng hiện đại phù hợp với thẩm mỹ của khán giả đương
thời.”(1)
Với
hơn 70 tác phẩm ngắn, dài vừa chỉnh lý, cải biên vừa dàn dựng mới cho nghệ thuật
sân khấu tuồng cùng với những bài viết, công trình nghiên cứu lý luận, đạo diễn
Tạ Tạo đã góp phần làm phong phú kho tàng nghệ thuật tuồng nói chung và giúp Nhà
hát Tuồng đứng vững và phát triển cùng với các đơn vị nghệ thuật khác trong cả
nước.
Nguyễn Thị
Thanh Vân
(1) Nông
Quốc Bình – Tạ Tạo với sân khấu truyền
thống. Tạp chí Sân khấu năm
1985.
(1) Từ
Lương - Tuồng
“Lôi vũ” và “Người không mang họ”. Tạp chí sân khấu số 108,
tháng 10 năm 1989.
(2) T.L – Đôi
điều bày tỏ về vở tuồng “Hoàng hôn đen”. Tạp chí sân khấu số 1, năm
1985.
(1) Tạ Văn
Tạo – Nghiên
cứu việc cách tân nghệ thuật Tuồng Việt Nam . Công
trình nghiên cứu cấp Bộ năm 1999, tr5.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét